mở đầu và kết luận, luận văn đợc chia thành 3 chơng: Chong 1: Bối cảnh và những yếu tố tác động đến quan hệ Ả rập Xê út - Mỹ Chơng 2: Quan hệ Ả rập Xê út - Mỹ từ năm 2011 đến năm 2020 Chong 3: Danh giá quan hệ Ả rập Xê út - Mỹ từ 2011 đến 2020 và triển vọng CHGJONG 1: NHUNG YEU TO TAC DONG DEN QUAN HE A RAP XE UT- MY 1. Yếu tố quốc tế và khu vực 1. Yếu tổ quốc tễ 1. Boi cảnh chính trị, kinh tế thể giới Từ cuối năm 2011 đến nay, thế giới chứng kiến một loạt các sự kiện xảy ra.
Có thể nói, một thập kỷ vừa qua là một thập kỷ chứng kiến nhiều sự thay đổi, bao gồm cả thời cơ và thách thức. Thế giới bây giờ đang trở thành một thế giới toàn cầu. Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và cách mạng công nghiệp 4.0, mọi ngời từ khắp các quốc gia có thê mua bán trực tuyến qua mạng, cùng nhau xem chung một trận bóng đá, hay thởng thức văn hóa, nghệ thuật của các nớc khác chỉ qua một chiếc màn hình ti vi, máy tính hay đơn giản là chiếc điện thoại. Nhờ tác động của cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới dong nh phẳng ra, không gian và khoảng cách đợc thu hẹp lại, thông tin đợc tiếp cận dễ dàng và đa dạng, xử lý nhanh chóng, chính xác.
Các sản phẩm tiêu dòng cũng vì thế mà tân tiến hơn, giúp giảm bớt sức ngời, tang sức mua của ngời tiêu dòng. Đầu năm 2011, kinh tế thế giới có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, chịu ảnh hởng sâu sắc của các cuộc biến động chính trị ở Bắc Phi - Trung Đông, các thảm hoạ thiên nhiên. Khủng hoảng nợ công tiếp tục phủ bóng đen lên khu vực Châu Âu. Căng thẳng nợ công tại các nớc phát triển đang ngày càng trầm trọng hơn.
Năm 2011, tỉ lệ nợ công bình quân tại các nớc đang phát triển đã lớn hơn 100% GDP, đặc biệt là các nớc trong khu vực Châu Âu. Đối với Mỹ, những khoản chỉ tiêu không lồ trong các gói kích thích đợc triển khai để vực dậy nền kinh tế sau khủng hoảng đã khiến vấn đề nợ công của nớc này trở nên trầm trọng và đây Mỹ phải đối diện với vách đá tài chính vào giai đoạn cuỗi năm 2012 với khả năng phải cắt giảm chỉ tiêu và tăng thuế trên diện rộng. Cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ năm 2008 đã để lại những hậu quả và hệ lụy vô cùng lớn đối với nền kinh tế thế giới. Theo số liệu tại Bảng 1.1, ting trong kinh tế thế giới năm 201 1 đạt 4,3% (giảm từ 5,4% năm 2010).
Năm 2012, 2013 tiếp tục sụt giảm xuống còn 3,2%. Giai đoạn năm 2014-2015, tăng trởng kinh tế thế giới có chút tăng nhẹ, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi (đạt 3,5% vào năm 2015). Có thể thấy, giai đoạn từ 2011-2015, tăng trởng kinh tế thế giới ở mức thấp hơn nhiều so với các giai đoạn trớc. Bức tranh màu xám này bao phủ đến khắp các nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt là các nên kinh tế phát triển.
Tăng trởng GDP của kinh tế thế giới giai đoạn 2010 — 2015 DVT: (%) Tang trojong GDP 2010 2011 P012 P013 P014 P015 Thế giới 54 H3 B5 B2 B6 65 Các nên kinh tế phát triển 51 |7 |2 4 BI P3 Mỹ 26 |6 P2 ls P5 P9 EU 21 [1,9 [0,7 pb 17 P.5 Nhật Bản 4 05 |4 [LS [14 | Cac nén kinh té dang phattrién va 7,4 64 63 BI H7 43 mới nỗi Trung Quốc 106 95 7,9 78 17,3 69 lÁn độ 103 66 65 64 7,7 BE ASEAN 69 bs 62 BI h7 B Nguôn: World Economic Outlook, IMF, (2020) Bớc sang một giai đoạn chuyên đôi mới, bức tranh kinh tế thế giới năm 2014 trở nên sáng sủa hơn khi những nỗ lực trong việc điều hành chính sách kinh tế của các quốc gia phần nào đạt đợc kết quả mong muốn. Kinh tế thế giới từ 2014 đến năm 2015 có triển vọng phục hồi khá, với sự phục hồi của phần lớn các nền kinh tế dẫn dắt đà tăng trởng của kinh tế thế giới nh Mỹ, Nhật Bản và phần lớn các nền kinh tế đang nổi và sự phục hồi của các lĩnh vực chủ yếu của kinh tế thế giới nh thơng mại, đầu t. Đây là bớc tạo đà cho nền kinh tế thế giới lấy lại đà tăng trởng cho giai đoạn 2015-2020 với sự phục hồi tăng trởng của hầu hết các nền kinh tế dẫn dắt đà tăng trởng của kinh tế thế giới (bao gồm Mỹ, EU, Nhật Bản,.) và của các lĩnh vực chủ yếu kinh tế thế giới nh thơng mại, đầu t. Sang giai đoạn 2016-2018, nền kinh tế thế giới đều có mức tăng trởng trên 4%, phục hồi khả quan.
Tăng trởng của các nền kinh tế lớn trở thành động lực dẫn dắt chung của tăng trởng GDP toàn cầu. Tốc độ tăng trởng kinh tế thế giới trung bình năm 2016 đạt 3,4%, tăng lên mức 3,9% vào năm 2017 (theo Bang 1.2: Tăng trởng GDP thế giới giai đoạn 2016-2019 và dự báo năm 2020-2021 DVT: (%) Tang trojong GDP 2016 | 2017 | 2018 | 2019 |2020 (dự | 2021 (dự báo) báo) Thế giới 3,4 | 3,9 | 3,6 | 2,9 -3 5,8 Các nên kinh tế phát triển | 3,1 | 2/5 | 2,2 | 1,7 -6,1 4,5 My 16] 24 | 2.9 ] 2,3 -5,9 4,7 EU 22 | 29 | 23 | 17 -7,1 4,8 Các nền kinh tế đang phát | 4,6 | 48 | 4.5 | 3,7 -1 6,6 triển và mới nỗi Trung Quốc 68 | 69 | 6,7 | 6,1 1.2 9,2 lÁn độ 83 | 7 6,1 | 4,2 1,9 7,4 IASEAN 51 | 5⁄4 | 53 | 448 -0,6 7,8 Khu vực Trung Đông 5 2,3 1,8 1,2 -2,8 4 A rap Xé ot 17] -07 | 24 ] 03 -2,3 2,9 Nguon: IMF (2020), IMF Report 4/2020. Tăng trong kinh tế thế giới từ 2018 - 2019 thấp hơn so với kỳ vọng trớc đó do những rủi ro đối với kinh tế toàn cầu đang tăng lên. Gói kích thích tài khóa từ luật cải cách thuế của Mỹ, tiến bộ công nghệ nhờ Cách mạng công nghiệp 4.0, những thành tựu đạt đợc từ tiễn trình toàn cầu hoá kinh tế là những động lực phần nào giúp kinh tế toàn cầu không sụt giảm quá lớn trong giai đoạn này.
Tuy nhiên, chủ nghĩa dân túy, chống toàn cầu hóa và bảo hộ thơng mại (đặc biệt thể hiện thông qua cuộc chiến thơng mại Mỹ - Trung), sự kiện Brexit, căng thăng địa chính trị tiếp diễn ở Trung Đông, xu hớng thất chặt tiền tệ tại các nớc phát triển (Mỹ, EU) và tác động giảm dần của gói kích thích tài khóa tại Mỹ là những sự kiện có tác động vô cùng lớn đối về nền kinh tế thế giới. Năm 2020, do ảnh hởng của đại dich Covid-19, du bdo tăng trởng kinh tế toàn cầu cho năm 2020 là -3%. Sự phục hồi vào năm 2021 đợc dự báo là đạt 5,8% (theo IME, 4/2020). DVT: (%) Annual percent change 20 1 20 50 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010 2015 2020 SELECTION (2020) % World = 3 ( European Union += 4 ASEAN-5 += -06 *® China, People’s Republic of 12 ® Saudi Arabia -23 © United States 59 ® Vietnam 27 Biéu dé 1.1: Du bdo tang tréng kinh té thé gidi nim 2020 Nguon: IMF Report, 4/2020 Những con số tăng trởng âm này cho thấy nền kinh tế thé giới năm 2020 đang rơi vào khủng hoảng, chịu ảnh hởng vô còng nặng nề của dai dich Covid-19 gay ra.
Đồi hỏi các nớc phải có đờng hớng chính sách để khôi phục lại nền kinh tế sau khi đại dịch thuyên giảm. Có thể thấy, một thập niên vừa qua, kể từ sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế thế giới năm 2008 xảy ra, kinh tế toàn cầu có tăng trởng và phục hồi, hệ thống thơng mại và đầu t toàn cầu có dau hiệu tích cực, tý lệ lạm phát đợc duy trì mức thấp, hệ thống tài chính — tiền tệ cũng trở nên ôn định hơn. Tuy nhiên, các xung đột địa chính trị - thơng mại tại các cặp quốc gia lớn trên thế giới nh Mỹ - Trung, Anh - EU, Nhật Bản - Hàn Quốc, rõ ràng đã tạo ra những ảnh hởng không hề nhỏ đối với nền kinh tế thế giới. Trong thời gian tới, nền kinh tế thế giới đón nhận nhiều thách thức và cơ hội nh: quá trình toàn cầu hóa đợc điều chỉnh; cuộc CMCN lần thứ 4 vẫn đang diễn 10 ra sâu rộng tạo ra nhiều thay đôi cơ bản trong nền tảng tăng trởng kinh tế; sự già hóa dân SỐ, tốc độ đô thị hóa gia tăng nhanh chóng, các van đề biến đổi khí hậu; cuộc chiến thơng mại giữa Mỹ - Trung, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới và tiến trình Brexit còn diễn biến phức tạp; cuộc khủng hoảng kinh tế do đại dịch Covid- 19.
Đây là những vấn đề nỗi bật đang đặt nền kinh tế thế giới trớc những sự bất định khó lờng trong tơng lai. Bức tranh chính trị thế giới giai đoạn 2011-2020 với nhiều mảng màu, có tác động sâu rộng đến thế giới, điển hình nh: - Sự kiện Anh rút khỏi EU (còn đợc gọi là sự kiện BrexIt). Tiến trình Brexit bắt đợc bắt đầu từ ngày 23 tháng 6 năm 2016. Đến ngày 29/3/2019, Anh chính thức rời khỏi EU.
Sự kiện này đã kéo theo các hệ lụy cho kinh tế, chính trị khu vực EU nói riêng và thế giới nói chung. Những ngời ủng hộ Brexit yêu cầu các luật hạn chế quyền tự đo đi lại của ngời dân đợc thông qua ngay và quyền lực của Tòa án T pháp châu Âu, đồng thời tiến hành các cuộc đàm phán quan hệ thơng mại và đầu t trong tơng lai với EU, trớc khi Anh bắt đầu thực hiện các thủ tục để rời khỏi EU. Một số nớc trong EU đã lên tiếng phản đối những yêu cầu này. Đây là một yếu tố “đòn bây” gia tăng những căng thẳng chính trị trong khu vực.
- Căng thắng Mỹ - Nga ngày càng leo thang khi hai nớc không tìm đợc tiếng nói chung trong các thỏa thuận kiêm soát vũ khí giữa hai nớc xen lẫn với những bất đồng quan điểm trong các vẫn đề tại Trung Đông và việc cung cấp nguồn cung năng lợng cho châu Âu. Cả hai nớc Mỹ và Nga đều đa ra những tuyên bố cứng rắn, khiến cộng đồng quốc tế lo ngại về tơng lai rạn nứt của mối quan hệ này. - Năm 2018, Mỹ và Triều Tiên lần đầu tiên bắt tay ngồi vào đàm phán. Cuộc đàm phán này đợc tiến hành 2 lần, tại Singapore (2018) và tại Việt Nam (2019).