CHƯƠNG 1: CÁC NHÂN TO TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HE THÁI LAN - MY (2001-2020) Trong quan hệ quốc tế, các mối quan hệ song phương chịu ảnh hưởng đáng kế từ nhiều nhân tố khách quan và chủ quan. Mối quan hệ giữa Thái Lan và Mỹ chịu sự tác động mạnh mẽ từ các nhân tố chủ quan như lịch sử, lợi ích và cả các nhân tố khách quan như bối cảnh thé giới, khu vực bởi vị thé của cả hai nước. Day là cặp quan hệ đồng minh điển hình ở khu vực: Một nước là siêu cường số một thế giới và một nước có tầm ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á. Vì vậy, để đánh giá, phân tích mối quan hệ giữa Thái Lan và Mỹ cần xem xét các nhân tố chủ quan và khách quan, bởi đây chính là những biến số quyết định một phần không nhỏ tình hình quan hệ giữa hai nước.
Nhân tố khách quan 1. Bối cảnh thé giới và khu vực Thế ky 21 chứng kiến nhiều sự biến đổi trong môi trường an ninh, chính trị, kinh tế quốc tế. Ở thế kỷ trước, thế gidi sau su sup đồ của Liên Xô va các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã trở nên mat cân bang theo hướng có lợi cho Mỹ và các nước đồng minh. Mỹ trở thành siêu cường số một thế giới, “bất khả chiến bại” với ưu thế vượt trội trên các lĩnh vực then chốt.
Tuy nhiên, tình hình quan hệ quốc tế đã không diễn biến như nhiều người dự đoán. Tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã thúc đây quá trình toàn cầu hóa phát triển nhanh chóng hơn bao giờ hết. Các tiến bộ vượt bậc về thông tin, vận tải và công nghệ sản xuất đã hình thành nên các chuỗi sản xuất hàng hóa, thúc day dòng tiền và lực lượng lao động di chuyên dé dang hơn trên khắp thế giới. Yếu tố kinh tế ngày càng trở nên quan trọng trong việc củng cố sức mạnh tổng hợp của quốc gia va trở thành động lực chính thúc đây sự gan kết giữa các quốc gia và các khu vực.
Sự vươn lên mạnh mẽ của các cường quốc khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, An Độ,. lam giam di phan nào anh hưởng của Mỹ trên thé giới. Trật tự thé giới ngày càng phát triển theo hướng đa cực, các quốc gia vừa hợp tác, vừa cạnh tranh và kiềm chế lẫn nhau. Sự phụ thuộc lẫn nhau không chỉ diễn ra trên phương diện kinh tế — thương mai, mà 18 còn xuất hiện ở những vấn đề an ninh phi truyền thống khác như tình trạng ấm lên toàn cầu của trái đất, ô nhiễm môi trường, hay các làn sóng tội phạm, khủng bố xuyên quốc gia.
Những vấn đề này đòi hỏi các quốc gia cần phải thúc đây hợp tác sâu rộng hơn bởi lẽ trong bối cảnh toàn cầu hóa, không một quốc gia nao có thé tránh được những tác động này, và càng không thé một mình giải quyết được những vấn đề đó. Song song với xu thế toàn cầu hóa, xu thế khu vực hóa đã hình thành nên những khu vực liên kết chặt chẽ, tự chủ cao thông qua các khối kinh tế khu vực và các hiệp định thương mại tự do trong khu vực. Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực đi đầu trong việc tự do hóa thương mại và đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho sự luân chuyên hàng hóa giữa các nước trong khu vực. Đây cũng là khu vực trọng điểm địa chính trị, ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ.
Quá trình khu vực hóa kinh tế đã góp phần nâng tầm quan trọng của Đông Nam Á và Thái Lan. Đối với Mỹ, Thái Lan là cầu nối thích hợp để tăng cường sự tham gia của Mỹ tại khu vực. Những biến đổi về môi trường an ninh quốc tế cũng là một cơ sở quan trọng đối với sự phát triển của quan hệ Thái Lan và Mỹ những năm đầu thế kỷ 21. Cuộc tan công vào nước Mỹ ngày 11/9/2001 có thé coi là dau mốc mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ quốc tế bởi nó không chỉ gây thiệt hại lớn về con người, của cải mà còn tạo nên sang chấn cực sâu sắc với Mỹ, như một “gáo nước lạnh” dội vào danh dự và những giá trị mà nước Mỹ tin tưởng, bảo vệ.
Nước Mỹ đã điều chỉnh lại chiến lược và phát động cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu. Điều này dẫn theo những chuyên biến mới trong hợp tác chính trị và an ninh giữa Thái Lan và Mỹ bởi cả hai nước đều có chung một mối quan tâm là đối phó với các lực lượng cực đoan có liên quan tới Hồi giáo. Tuy nhiên cũng làm sâu sắc hon mâu thuẫn giữa các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu và phần còn lại của thế giới đồng thời góp phần làm gia tăng các điểm nóng trên toan cầu. Năm 2014, tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS xuất hiện, tập trung chủ yếu ở Iraq và Syria.
Nhiều nhóm khủng bố ở Bắc Phi, Tây Phi, và Đông Nam Á nhận làm tay chân cho IS. Nhiều chiến binh của IS là 19 công dân đến từ Bắc Phi, Kavkaz, Nga, Tây Au, Mỹ, và các nước Trung Đông khác ngoài lraq và Syria. Di cư bat hợp pháp dưới nhiều hình thức khác nhau cũng đang là van đề an ninh phi truyền thống cần phải được ngăn chặn, vấn đề này đã và đang xảy ra ở nhiều quốc gia. Thế giới đang đối mặt với làn sóng di cư bất hợp pháp ở nhiều nơi, thực tế các cuộc di cư này đều rất mạo hiểm, tiềm ân nhiều rủi ro về tính mạng.
Theo Cơ quan quản lý biên giới Liên minh châu Âu (EU) Frontex ước tính, trong năm 2014, số người nhập cư trái phép vào khu vực này tăng gần gấp ba lần, với 276.000 trường hợp so với năm trước đó, trong đó có 220.000 người đi qua Dia Trung Hải. Libya và Syria là những quốc gia di cư bằng đường biển đến EU đông nhất [Nguyễn Thế Chinh, 2019]. Ngoài ra, tình trạng di cư từ các quốc gia châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á cũng đáng báo động. Trong số đó, có nhiều người đã thiệt mạng ngay trên đường đi sang EU.
Một trong những thảm hoạ tôi tệ nhất trong cuộc khủng hoảng di cư ở Dia Trung Hải, đó là hơn 700 người thiệt mạng trên một con tàu đánh cá chở người di cư bất hợp pháp đến châu Âu bị lật ngoài khơi Libya vào tháng 4/2015 [Nguyễn Thế Chinh, 2019]. Hợp tác quốc tế chặt chẽ là giải pháp duy nhất dé giải quyết được các van đề toàn cầu. Năm 2019, thế giới chứng kiến sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu không chỉ trên lĩnh vực y tế. Tính tới thời điểm tháng 12/2021, thế giới có hơn 270 triệu người nhiễm và hơn 5,3 triệu người chết vì địch bệnh [Worldometers, 2021], đây thế giới vào một cuộc suy thoái kinh té nghiém trọng hon cả cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát năm 2008.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu sụt giảm; nhiều quốc gia buộc phải “đóng cửa” cả bên trong lẫn bên ngoài biên giới khiến cho chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu cũng như sự giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia rối loạn, ách tắc. Châu A — Thái Bình Duong là khu vực đã và đang diễn ra quá trình phát triển năng động với nền kinh tế liên tục tăng trưởng đồng thời năm giữ vị trí địa chính trị quan trọng đối với các cường quốc trong thế kỷ 21. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực có nhiêu vân đê tôn tại, mâu thuần do mức độ phát triên của các quôc gia không 20 đồng đều, tôn giáo, dân tộc da dạng. Ngoài ra, đây là khu vực “nóng” bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng qua nhiều thời kỳ giữa các cường quốc gây nên nhiều biến động trong khu vực, xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng mới cùng với trạng thái đan xen lợi ích phức tạp.
Đặc trưng nổi bật trong các mối quan hệ quốc tế ở khu vực châu A — Thái Binh Dương hiện nay là: hợp tác, đấu tranh, đàm phán, thỏa hiệp; các nước đều cố găng tận dụng mọi thời cơ, lợi thé dé tối đa hóa lợi ích quốc gia của mình. Quan hệ ASEAN — Mỹ Với số dân khoảng 650 triệu người, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5% và đạt mức gần 3.000 tỷ đô la, dân số trẻ và đam mê công nghệ, 10 quốc gia ASEAN hiện là một trong những khu vực năng động nhất của thế giới [Văn phòng phát ngôn viên, 2019]. Xét trên phương diện địa — chính trị, Đông Nam Á án ngữ vị trí đặc biệt quan trọng với tuyến đường hàng hải thuận tiện, hệ thống cảng biển, eo biển kết nối Thái Bình Dương với An Độ Dương, Dai Tây Duong; là cầu nối giữa hai châu lục A — Âu, giữa Tây Nam A, Trung Cận Đông, Bắc Phi với Đông Bắc A và Bắc Mỹ. Vì vậy, tuy chỉ là những nước vừa và nhỏ, nhưng đây là khu vực chiến lược có quan hệ về mặt lợi ích với tất cả các nước lớn trên thế giới.
Cũng do vậy, trong nhiều thập kỷ, các nước lớn đã thực hiện nhiều bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách đối với khu vực này. Liên bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, EU đều từng bước có sự cải thiện, nâng cao mối quan hệ với ASEAN. Giai đoạn đầu sau Chiến tranh Lạnh, nước Mỹ do đặt trọng tâm vào phục hồi nên kinh tế và xử lý những van đề nội bộ, nên đã suy giảm nhất định mối quan tâm đối với khu vực, đó là một phần lý do Mỹ rút các căn cứ quân sự ở Vịnh Subic và Clark (Philippines) năm 1992 [Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Qué, Nguyễn Thị Lệ, 2007, tr. Tuy vậy, trước sự phát triển năng động của hợp tác khu vực, đặc biệt sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ đã điều chỉnh chính sách tăng cường quan hệ với các nước ASEAN, đặc biệt sau sự kiện ngày 11/9/2001.
Trên thực tế, Mỹ có ba mối quan tâm chính đối với khu vực ASEAN: (1) Tầm quan trong của tuyến hàng hải nối liền An Độ Dương và Thái Bình Dương, nối Australia 21 với các nước Đông Bắc Á; (2) Đông Nam Á là “mặt trận thứ hai” trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu của Mỹ, là quê hương của hơn 250 triệu người Hồi giáo; (3) Đông Nam Á đã và đang là địa bàn cạnh tranh ảnh hưởng quan trọng của các cường quốc, đặc biệt trước sự nổi lên của Trung Quốc.