Tổng quan nghiên cứu
Thị trường xuất khẩu lao động sang Nhật Bản đóng vai trò chiến lược trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, vừa giải quyết bài toán việc làm trong nước, vừa mang lại nguồn ngoại tệ bình quân trên 300 triệu USD mỗi năm. Theo báo cáo từ Cục Quản lý lao động ngoài nước, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2018, cả nước đã có 60.806 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 55,1% kế hoạch năm và tăng 106% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, Nhật Bản cùng với Đài Loan tiếp tục là hai thị trường trọng điểm khi tiếp nhận tới 90% tổng số lao động xuất khẩu. Tính đến cuối năm 2017, số lượng thực tập sinh kỹ năng người Việt Nam chiếm tỷ lệ cao nhất trong các quốc gia phái cử với 45,1%, vượt qua Trung Quốc (28,3%) và Philippines (10,1%), nâng tổng số thực tập sinh Việt Nam đang làm việc tại Nhật Bản lên hơn 126.000 người.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng trong giai đoạn 2010 - 2018 đã làm bộc lộ nhiều lỗ hổng trong công tác quản lý và bảo vệ quyền lợi người lao động. Thực trạng thực tập sinh bị bóc lột sức lao động, nợ lương, đối xử bất công, phát sinh chi phí trung gian quá cao hay tình trạng phá vỡ hợp đồng và cư trú bất hợp pháp ngày càng diễn biến phức tạp. Luận văn tập trung nghiên cứu cơ chế bảo vệ tu nghiệp sinh và thực tập sinh kỹ năng người Việt Nam tại Nhật Bản, đánh giá tác động của Luật Thực tập kỹ năng năm 2017 cùng các chính sách phái cử của Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng pháp lý và khảo sát thực địa tại 20 tỉnh thành của Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm giảm thiểu rủi ro, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động và nâng cao uy tín của lực lượng lao động Việt Nam trên trường quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết dịch chuyển lao động quốc tế (Lý thuyết Lực hút - Lực đẩy) và Lý thuyết bảo trợ quyền lao động theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Lý thuyết Lực hút - Lực đẩy giải thích rõ động cơ dịch chuyển: sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực do già hóa dân số tại Nhật Bản tạo ra lực hút mạnh mẽ đối với lao động từ các nước đang phát triển, trong khi áp lực việc làm và chênh lệch thu nhập tại Việt Nam là lực đẩy chủ đạo. Khung bảo trợ quyền lao động cung cấp tiêu chuẩn đánh giá mức độ bảo đảm điều kiện làm việc, tiền lương và an toàn cho người lao động nhập cư.
Hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo quy định pháp luật hai nước:
- Tu nghiệp sinh: Thuật ngữ áp dụng cho người lao động nước ngoài tiếp nhận theo chương trình đào tạo nghề trước ngày 01/07/2010, chủ yếu học tập và thực hành cơ bản, chưa được hưởng đầy đủ quyền lợi theo luật lao động.
- Thực tập sinh kỹ năng: Khái niệm chính thức áp dụng từ ngày 01/07/2010 theo Luật Xuất nhập cảnh sửa đổi và tiếp tục được hoàn thiện theo Luật Thực tập kỹ năng năm 2017, xác lập tư cách lao động hợp pháp có hợp đồng và được bảo vệ bình đẳng như lao động bản xứ.
- Cơ quan phái cử: Doanh nghiệp được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cấp phép đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài.
- Nghiệp đoàn quản lý: Tổ chức pháp nhân phi lợi nhuận tại Nhật Bản thực hiện chức năng tiếp nhận, quản lý và giám sát doanh nghiệp thực tập.
- Doanh nghiệp tiếp nhận: Cơ sở sản xuất, nhà máy trực tiếp đào tạo và sử dụng lao động thực tập sinh.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học. Cỡ mẫu khảo sát thực địa gồm 77 thực tập sinh kỹ năng đang làm việc tại 20 tỉnh thành của Nhật Bản, thu về 74 phiếu trả lời hợp lệ (tỷ lệ hoàn thành đạt 96,1%). Phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp kỹ thuật quả cầu tuyết được áp dụng để tiếp cận người lao động tại các khu vực tập trung đông thực tập sinh như tỉnh Aichi (chiếm 28,5% tổng số mẫu), thuộc các ngành nghề trọng điểm: cơ khí - điện tử (chiếm 52,1%), chế biến thực phẩm và thủy sản (chiếm 32,4%), nông nghiệp và xây dựng (chiếm 15,5%).
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp được triển khai trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhật Bản và Việt Nam, cùng số liệu thống kê chính thức từ Cục Quản lý lao động ngoài nước (DOLAB), Hiệp hội Xuất khẩu Lao động Việt Nam (VAMAS), Bộ Tư pháp Nhật Bản, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản, Tổ chức JITCO và Tổ chức OTIT. Lý do lựa chọn phân tích kết hợp là nhằm đối chiếu khung thể chế pháp lý với trải nghiệm thực tế của người lao động trong dòng thời gian nghiên cứu từ tháng 07/2010 đến tháng 06/2018 (đợt khảo sát thực tế diễn ra từ ngày 24/01/2018 đến ngày 02/04/2018), qua đó nhận diện chính xác các điểm nghẽn trong công tác thực thi chính sách bảo hộ.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tỷ lệ vi phạm pháp luật lao động tại các doanh nghiệp tiếp nhận Nhật Bản ở mức đáng báo động. Thống kê của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản cho thấy, trong số 5.966 doanh nghiệp tiếp nhận thực tập sinh được thanh tra năm 2017, có tới 4.226 đơn vị vi phạm quy định (chiếm 70,8%). Các nhóm sai phạm phổ biến nhất gồm: vi phạm thời gian làm việc và ép làm thêm quá giờ với 1.566 trường hợp (chiếm 26,2%); không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn lao động với 1.176 trường hợp (chiếm 19,7%); không chi trả hoặc cắt giảm tiền làm thêm giờ với 945 trường hợp (chiếm 15,8%).
Thứ hai, gánh nặng tài chính và rào cản chi phí trung gian trước khi xuất cảnh gây sức ép nặng nề lên thực tập sinh. Theo quy định chính thức, mức chi phí chuẩn để đi làm việc tại Nhật Bản dao động khoảng 40 - 50 triệu đồng (tương đương 3.600 USD). Tuy nhiên, trên thực tế, người lao động phải chi trả từ 90 đến 120 triệu đồng, thậm chí lên tới 200 triệu đồng (tương đương trên 8.000 USD) do tình trạng môi giới qua nhiều tầng nấc trung gian và thu tiền thế chấp sai quy định. Khoản nợ lớn trước khi bay là nguyên nhân trực tiếp khiến nhiều lao động chấp nhận làm việc trong điều kiện bóc lột hoặc bỏ trốn ra ngoài để tìm kiếm thu nhập cao hơn.
Thứ ba, sự chuyển biến tích cực từ khung pháp lý của Luật Thực tập kỹ năng 2017 và tổ chức OTIT. Việc thay thế mô hình hỗ trợ bán công của JITCO bằng Hiệp hội Thực tập kỹ năng quốc tế (OTIT) có thẩm quyền thanh tra, xử phạt và rút giấy phép đã tăng cường tính răn đe. Luật mới cho phép kéo dài thời gian thực tập từ 3 năm lên 5 năm đối với các nghiệp đoàn và doanh nghiệp xuất sắc, đồng thời thiết lập hệ thống tư vấn, tố cáo bằng 10 ngôn ngữ (bao gồm tiếng Việt) giúp người lao động chủ động bảo vệ quyền lợi cá nhân.
Tỷ lệ sai phạm tại các doanh nghiệp tiếp nhận Nhật Bản (Năm 2017):
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu phản ánh sự mâu thuẫn sâu sắc giữa bản chất nhân văn của chương trình chuyển giao công nghệ với mục đích kinh tế thực tế của các bên liên quan. Về phía Nhật Bản, tình trạng thiếu hụt khoảng 3 triệu lao động từ năm 2010 đã tạo áp lực khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ tận dụng thực tập sinh như nguồn nhân công giá rẻ để thực hiện các công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm (nhóm ngành 3-K). Trong khi đó, việc thiếu hụt kỹ năng tiếng Nhật và kiến thức pháp luật khiến 52,1% thực tập sinh ngành cơ khí và 32,4% ngành thực phẩm khó tự lên tiếng khi bị xâm phạm quyền lợi.
Về phía Việt Nam, công tác quản lý doanh nghiệp phái cử còn bộc lộ nhiều kẽ hở. Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp dịch vụ đã dẫn đến tình trạng khoán trắng cho môi giới địa phương, đẩy chi phí xuất cảnh lên mức gấp 2 đến 3 lần khung trần. Khi đối chiếu với các nghiên cứu giai đoạn trước năm 2010, cơ chế giám sát theo Bộ Quy tắc ứng xử CoC-VN đã có đóng góp tích cực nhưng vẫn thiếu chế tài cưỡng chế đối với các đơn vị cố tình lạm thu. Việc minh họa cơ cấu vi phạm qua các bảng biểu thống kê đã chứng minh rằng việc bảo vệ thực tập sinh không thể chỉ trông cậy vào phía tiếp nhận Nhật Bản mà đòi hỏi một cơ chế kiểm soát chi phí và chất lượng đào tạo chặt chẽ ngay từ cơ quan quản lý Việt Nam.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, siết chặt quản lý chi phí phái cử và thanh tra hoạt động doanh nghiệp dịch vụ. Cục Quản lý lao động ngoài nước (DOLAB) cần phối hợp với Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thiết lập hạn mức trần minh bạch cho từng đơn hàng, hướng tới mục tiêu đưa 100% chi phí xuất cảnh về mức quy định dưới 3.600 USD trong giai đoạn 2019 - 2020. Đình chỉ giấy phép hoạt động và xử phạt nghiêm các doanh nghiệp phái cử thu tiền ký quỹ trái quy định hoặc liên kết với các đường dây môi giới bất hợp pháp.
Thứ hai, chuẩn hóa chương trình đào tạo định hướng và nâng cao năng lực ngoại ngữ cho người lao động. Các doanh nghiệp phái cử cần kéo dài thời gian đào tạo tập trung tối thiểu từ 4 đến 6 tháng trước khi xuất cảnh. Mục tiêu đạt tối thiểu 80% thực tập sinh đạt trình độ tiếng Nhật tương đương N4 và nắm vững kỹ năng an toàn vệ sinh lao động, văn hóa ứng xử cùng các kênh trợ giúp pháp lý của OTIT trước khi bay, triển khai đồng bộ từ năm 2019 đến năm 2021.
Thứ ba, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa liên thông giám sát đa bên. Thiết lập cổng thông tin kết nối trực tuyến giữa Cục Quản lý lao động ngoài nước, Ban Quản lý lao động Việt Nam tại Nhật Bản, Hiệp hội VAMAS và cơ quan OTIT. Cơ chế này đặt mục tiêu rút ngắn thời gian tiếp nhận và xử lý khiếu nại của thực tập sinh xuống dưới 15 ngày làm việc, đảm bảo tỷ lệ giải quyết tranh chấp quyền lợi đạt trên 95% vào năm 2021.
Thứ tư, hoàn thiện mạng lưới hỗ trợ tái hòa nhập và chuyển giao tay nghề sau hồi hương. Hiệp hội VAMAS chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam tổ chức định kỳ các hội chợ việc làm chuyên biệt. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thực tập sinh hoàn thành hợp đồng về nước có việc làm phù hợp với tay nghề tích lũy lên trên 75% trong vòng 3 tháng đầu sau hồi hương, thực hiện liên tục trong lộ trình 2019 - 2022.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Tài liệu giúp các doanh nghiệp phái cử nắm vững khung pháp lý mới của Luật Thực tập kỹ năng 2017, chuẩn hóa quy trình tuyển dụng và quản lý theo Bộ Quy tắc CoC-VN, qua đó giảm thiểu trên 50% nguy cơ phát sinh tranh chấp lao động và nâng cao tỷ lệ xét duyệt hồ sơ tại nghiệp đoàn Nhật Bản.
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách lao động: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng từ 74 phiếu khảo sát chuyên sâu và các phân tích thể chế so sánh, hỗ trợ đắc lực cho cán bộ Cục Quản lý lao động ngoài nước và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc hoàn thiện chính sách, đàm phán Bản ghi nhớ hợp tác (MOC) và nâng cao hiệu quả thanh tra.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Châu Á học, Quan hệ quốc tế, Luật học: Luận văn là công trình tham khảo học thuật giá trị về quan hệ hợp tác lao động Việt Nam - Nhật Bản, đóng góp cơ sở lý luận và phương pháp khảo sát thực địa đối với nhóm lao động di cư quốc tế.
- Người lao động và gia đình đang có định hướng tham gia chương trình thực tập kỹ năng: Cung cấp cẩm nang thực tế về quyền lợi hợp pháp, các chi phí chuẩn mực, mức lương tối thiểu theo từng vùng và danh mục các kênh cứu trợ chính thống của OTIT, giúp người lao động chủ động phòng ngừa rủi ro lừa đảo.
Câu hỏi thường gặp
Tu nghiệp sinh và Thực tập sinh kỹ năng khác nhau như thế nào về mặt pháp lý?
Trước ngày 01/07/2010, người lao động sang Nhật Bản theo diện Tu nghiệp sinh chủ yếu để học nghề, chỉ nhận trợ cấp tu nghiệp và không được bảo vệ đầy đủ bởi Luật Tiêu chuẩn lao động Nhật Bản. Sau thời điểm này, chương trình chuyển đổi hoàn toàn sang tư cách Thực tập sinh kỹ năng, xác lập hợp đồng lao động chính thức, được hưởng lương tối thiểu vùng và đầy đủ chế độ bảo hiểm bình đẳng như công nhân bản xứ.
Tổ chức OTIT có chức năng bảo vệ thực tập sinh như thế nào kể từ tháng 11/2017?
Hiệp hội Thực tập kỹ năng quốc tế (OTIT) là cơ quan trực thuộc Chính phủ Nhật Bản, được trao quyền cấp phép, thanh tra trực tiếp các nghiệp đoàn và doanh nghiệp tiếp nhận. OTIT vận hành đường dây nóng tư vấn và tiếp nhận tố cáo vi phạm bằng 10 ngôn ngữ (bao gồm tiếng Việt), đồng thời hỗ trợ thực tập sinh chuyển đổi nơi làm việc khi doanh nghiệp tiếp nhận phá sản hoặc có hành vi bóc lột.
Thực trạng vi phạm của các doanh nghiệp tiếp nhận tại Nhật Bản phổ biến ở những điểm nào?
Theo số liệu thanh tra năm 2017 trên 5.966 doanh nghiệp tiếp nhận, có 70,8% cơ sở vi phạm pháp luật lao động. Trong đó, sai phạm nhiều nhất là ép làm thêm giờ vượt định mức (26,2%), vi phạm quy chuẩn an toàn lao động (19,7%) và không chi trả hoặc trả thiếu tiền làm thêm giờ (15,8%), gây ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và sức khỏe người lao động.
Chi phí đi thực tập sinh Nhật Bản theo quy định và trên thực tế chênh lệch ra sao?
Quy định chính thức của cơ quan quản lý xác định chi phí xuất cảnh hợp lý dao động trong khoảng 40 - 50 triệu đồng (tương đương 3.600 USD). Tuy nhiên, trên thực tế, người lao động thường phải chi trả từ 90 đến 120 triệu đồng, thậm chí lên đến 200 triệu đồng (khoảng 8.000 USD) do phát sinh các khoản phí dịch vụ trung gian, môi giới và tiền đặt cọc chống trốn trái phép.
Bộ Quy tắc ứng xử CoC-VN đóng vai trò gì trong quản lý doanh nghiệp xuất khẩu lao động?
CoC-VN là bộ công cụ tự nguyện do Hiệp hội VAMAS ban hành với sự hỗ trợ của ILO nhằm đánh giá và xếp hạng mức độ tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp phái cử. Bộ quy tắc thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, minh bạch hóa các khoản thu, bảo vệ quyền lợi người lao động từ khâu tuyển chọn, đào tạo đến khi làm việc tại nước ngoài và tái hòa nhập sau hồi hương.
Kết luận
- Lực lượng thực tập sinh kỹ năng Việt Nam tại Nhật Bản phát triển vượt bậc, chiếm tỷ trọng cao nhất với 45,1% thị phần và hơn 126.000 người vào cuối năm 2017.
- Tỷ lệ vi phạm pháp luật lao động tại các cơ sở tiếp nhận Nhật Bản còn ở mức cao (70,8% doanh nghiệp bị thanh tra vi phạm), đặt ra yêu cầu cấp bách về cơ chế bảo hộ.
- Luật Thực tập kỹ năng năm 2017 và sự ra đời của cơ quan OTIT đã tạo lập hành lang pháp lý vững chắc, nâng thời hạn thực tập lên 5 năm và đa dạng hóa kênh hỗ trợ ngôn ngữ mẹ đẻ.
- Phía Việt Nam cần kiên quyết dẹp bỏ nạn lạm thu chi phí phái cử, đưa mức phí về chuẩn dưới 3.600 USD và nâng tỷ lệ lao động đạt chuẩn N4 lên 80% trước khi xuất cảnh.
- Hoàn thiện thể chế quản lý liên thông giữa DOLAB và OTIT trong lộ trình 2019 - 2025 là giải pháp then chốt để bảo vệ quyền lợi bền vững cho người lao động.
Luận văn đã đóng góp hệ thống cứ liệu khoa học và thực tiễn vững chắc, làm rõ bức tranh toàn cảnh về hoạt động bảo hộ lao động di cư trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp dịch vụ và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác chi tiết các kết quả phân tích trong toàn văn công trình để ứng dụng vào công tác thực tiễn và hoạch định chính sách lao động ngoài nước.