Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm chung về làng nghề Việt Nam 1. Khái niệm và phân loại làng nghề Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thống về “làng nghề”. Tiêu chí thường dùng để xem xét khi đưa ra khái niệm làng nghề gắn với số hộ (hoặc số người) chuyên làm nghề và thu nhập từ nghề đó.
Như vậy có thể hiểu thuật ngữ “làng nghề” là các làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông [19]. Có nhiều cách phân loại làng nghề nhưng phân loại theo nhóm sản phẩm và phương thức sản xuất là dễ chấp nhận hơn cả [32]. - Làng nghề thủ công mỹ nghệ: là những làng nghề mà sản phẩm là những mặt hàng đồ gia dụng của người Việt Nam như rổ, rá, mũ, nón, chiếu…hoặc các mặt hàng có giá trị về văn hoá và trang trí như đồ gỗ mỹ nghệ, chạm khảm, đồ thêu… - Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến các loại nông lâm sản, giết mổ gia súc, nấu rượu và sản xuất các loại nông sản khác kể cả cá loại tinh dầu - Làng nghề gia công chế biến nguyên vật liệu như trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, dệt vải, nung vôi gạch ngói… - Làng nghề cơ khí và tái chế chất thải như đúc, rèn, làm dao kéo, cày cuốc và thu gom phế liệu về tái chế và gia công lại… - Làng nghề buôn bán và dịch vụ là loại làng nghề không sản xuất ra các sản phẩm mà bao gồm các hộ, các cá nhân bán buôn, bán lẻ, bán hàng rong các mặt hàng để thu lợi nhuận và cung cấp các dịch vụ như: thợ xẻ, thợ mộc, thợ xây…Các làng nghề không buôn bán như Ninh Hiệp-Hà Nội, Đình Bảng-Bắc Ninh. Loại hình và quy mô doanh nghiệp làng nghề hiện nay Doanh nghiệp làng nghề khá đa dạng, bao gồm đủ loại hình thức tổ chức như doanh nghiệp Nhà nước, tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các hộ sản xuất và hộ gia đình…Gần đây, cơ cấu loại hình doanh nghiệp làng nghề đã chuyển đổi mạnh theo cơ chế thị trường.
Hộ cá thể chuyên nghiệp, xí nghiệp và công ty tư nhân tăng lên, các loại hình doanh nghiệp nhà nước giảm đi. Đa số doanh nghiệp làng nghề là các hộ thủ công tiểu chủ, hộ cá thể và gia đình. Chính các hộ này là nòng cốt, thành phần chính của làng nghề. Với hình thức “hộ gia đình”, gần như tất cả các thành viên trong hộ đều được huy động vào những công việc khác nhau của quá trình sản xuất.
Tuỳ nhu cầu công việc, hộ gia đình có thể thuê mướn lao động thường xuyên hoặc lao động thời vụ. Sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình đảm bảo được sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm, huy động được mọi lực lượng có khả năng lao động tham gia quá trình sản xuất, tận dụng thời gian và nhu cầu đầu tư thấp. Thông thường các hộ có xưởng sản xuất nằm ngay trong khuôn viên gia đình, nhà ở cũng có khi là nơi sản xuất. Nói chung hình thức này phù hợp với quy mô nhỏ, sản xuất nhỏ của nông dân và thợ thủ công.
Quy mô ấy cũng rất hạn chế trong việc đầu tư trang thiết bị và đổi mới công nghệ [38]. Hình thức hộ tiểu chủ được phát triển ở các làng nghề có trình độ tập trung sản xuất tương đối cao như làng giấy Phong Khê, làng rèn Đa Hội (Bắc Ninh) có hàng chục tiểu hộ với tiềm lực kinh tế khá, đầu tư hàng tỷ đồng mua sắm thiết bị, các hộ này còn thuê mướn lao động trong và ngoài làng. Các hội này còn đảm bảo việc bao tiêu sản phẩm cho một số hộ gia đình trong làng nghề [38]. Hình thức xí nghiệp, công ty tư nhân là loại hình doanh nghiệp phát triển khi nước ta ban hành Nghị định 27/1998, Luật doanh nghiệp tư nhân 1990.
Hình thức này tuy chưa phát triển rộng rãi nhưng đã xuất hiện tại một số làng nghề như xí nghiệp sản xuất gốm sứ Bát Tràng, Hà Nội, xí nghiệp xây dựng ở Nội Duệ, Bắc Giang… Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, một số hợp tác xã làng nghề đã chuyển đổi phương thức hoạt động cho hợp với cơ chế mới. Hợp tác xã đã đảm nhiệm dịch vụ đầu vào, đầu ra là người đứng ra bảo trợ, giúp đỡ cho các xã viên và lấy hộ sản xuất là chính. Do đó hoạt động của các làng nghề có hiệu quả hơn. Điều này có thể chứng minh qua sự đổi mới ở hợp tác xã dệt Vạn Phúc, hợp tác xã dệt Duy Trinh…[17].
Đặc điểm làng nghề Có thể thấy các làng nghề ở Việt Nam đều có các đặc điểm như sau [32]: - Lực lượng lao động đa số là dân cư trong làng, việc làm nghề là để tăng thêm thu nhập trong những ngày nông nhàn hoặc để mưu sinh ở các làng ít ruộng, đất bạc màu. - Công nghệ sản xuất đơn giản, đôi khi thô sơ, cần nhiều sức lao động - Đơn vị sản xuất cơ bản là hộ gia đình với nguồn nhân lực là mọi thành viên với mọi lứa tuổi trong gia đình. - Do có nhiều hộ gia đình cùng làm một nghề nên tính chuyên môn hoá và phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề rất rõ rệt, tạo nên tính chất riêng biệt của làng nghề dẫn tới sự độc quyền trong sản phẩm. Thực trạng điều kiện lao động trong các làng nghề tại Việt Nam Ở Việt Nam cho đến nay đã có một số điều tra, nghiên cứu về thực trạng điều kiện lao động của người lao động tại các làng nghề.
Tuy nhiên các nghiên cứu đề cập đến điều kiện lao động trong làng nghề mộc thì rất ít chỉ có một vài nghiên cứu như nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Tú (2000) [35], nghiên cứu của Lê Vân Trình (2003) [33], nghiên cứu của Vũ Mạnh Hùng (2005) [21] và gần đây nhất là nghiên cứu của Nguyễn Quý Phong (2010) [27]. Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy điều kiện lao động và môi trường lao động (MTLĐ) trong các làng nghề là đáng lo ngại, nguy cơ dẫn đến TNLĐ là rất cao như thiếu phương tiện bảo hộ lao động, nhà xưởng chật hẹp, máy móc không đảm bảo an toàn lao động, thời gian làm việc kéo dài, người lao động không được huấn luyện về ATVSLĐ trước khi làm việc, đặc biệt là sự xen kẽ giữa sản xuất và sinh hoạt, nguy cơ tiếp xúc với bụi, nóng, ồn và hoá chất cao. Theo Nguyễn Thanh Bình và cộng sự (1999) thì thời gian làm việc trong ngày của người lao động tại 03 làng nghề (làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội, làng nghề tái chế nhựa Minh Khai và làng nghề sản xuất giấy tái sinh Phong Khê) chủ yếu từ 8-12 giờ, tỷ lệ người lao động (NLĐ) làm việc >8h/ngày ở làng nghề giấy Phong Khê là 76,2%, ở làng nghề tái chế kim loại Đa Hội là 55,2%. Tỷ lệ NLĐ luôn phải làm việc với một tư thế tương đối cao: Đa Hội là 41,2%; Phong Khê là 50%; Minh Khai là 38%.
12,1% người lao động phải làm các công việc thể lực nặng như khuân vác, gánh đẩy. Tỷ lệ người lao động sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN) thấp như găng tay bảo hộ (Phong Khê 9,9%, Minh Khai 21,1%). 100% người lao động không được học tập về ATVSLĐ [2]. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Tú và cộng sự (2000) về thực trạng làm việc và sức khoẻ người lao động tại 06 làng nghề (01 làng nghề chế biến thực phẩm, 02 làng nghề gia công cơ khí, 02 làng nghề đồ gỗ mỹ nghề, 01 làng nghề chạm bạc) của 3 tỉnh Bắc Ninh, Nam Định, Hưng Yên kết quả cho thấy: Bắc Ninh có tỷ lệ người lao động phải làm việc từ 10-12 giờ/ ngày chiếm 91%; Nam Định và Hưng Yên có số người làm việc 8 tiếng hoặc <8 tiếng/ ngày là khá phổ biến (70-97,2%).
100% người lao động không được học tập về ATVSLĐ [35]. Trần Việt Quang và CS (2001) đã nghiên cứu môi trường lao động và điều kiện làm việc tại một số cơ sở sản xuất vừa và nhỏ ở tỉnh Nam Định cho thấy hầu hết các cơ sở này có vốn đầu tư ít, công nghệ còn lạc hậu, công tác bảo hộ lao động, chăm sóc sức khoẻ cho người lao động chưa được quan tâm đúng mức. Kết quả tại các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến vật tư chăn nuôi…đều có các yếu tố như tiếng ồn, nhiệt độ, nồng độ CO và CO2 vượt TCCP [28]. Theo kết quả nghiên cứu của Phan Hướng Dương (2001) khảo sát điều kiện lao động tại làng nghề chế biến lương thực xã Dương Liễu, Hoài Đức, Hà Tây cho thấy: ngoài ô nhiễm MTLĐ thì phần lớn người lao động làm việc với cường độ cao >10h/ ngày (77%); 45,4% người lao động làm việc trong tư thế gò bó.
Tỷ lệ người lao động tiếp xúc với các yếu tố tác hại như hơi khí độc (65,4%), nóng (55%), nước bẩn (51,6%), bụi (26,6%) và có nguy cơ tai nạn là 36,8%. Điều kiện làm việc tại các cơ sở sản xuất còn chật hẹp chiếm 78,6%, không thông thoáng gió là 33,6%, nền nhà trơn trượt là 32,3%, chiếu sáng chưa tốt là 29,8%. Có đến 17,2% số cơ sở sản xuất không thực hiện biện pháp ATVSLĐ. 100% người lao động không được tập huấn về ATVSLĐ [16].
Theo Đan Thị Lan Hương (2002) nghiên cứu về thực trạng vệ sinh môi trường và một số đặc điểm bệnh tật tại làng nghề Thiết Trụ cho thấy trong quá trình sản xuất chế biến thuốc nam, người lao động phải dùng một lượng than và bột diêm sinh rất lớn. Tính trung bình mỗi hộ mỗi năm dùng 5,3 tấn than và 21,88 kg bột diêm sinh. Trong khi đó khoảng cách bếp than sấy thuốc so với nhà ở <10m là 63,9%, từ 10-50m là 39,2%, chỉ có 3,2% số hộ có bếp than cách nhà 50-100m. Còn khoảng cách sấy thuốc bằng diêm sinh so với nhà ở <10m chiếm 85,5%.
Kết quả phỏng vấn các hộ gia đình cho thấy 99% hộ gia đình thấy không khí có mùi khó chịu trong đó 98,3% cho là do hơi diêm sinh; 75,7% cho là do hơi than và 71,9% cho là do nước thải [22]. Theo báo cáo của Lê Vân Trình (2003) về kết quả khảo sát 1017 cơ sở sản xuất vừa, nhỏ và 145 làng nghề trên toàn quốc với 270.000 NLĐ trong 5 năm từ 1996-2001 cho thấy có 78,6% các xưởng sản xuất trong các cơ sở sản xuất nói trên bị ô nhiễm một vài yếu tố như: tiếng ồn, bụi, hơi khí độc. Hệ số tần suất TNLĐ trung bình là 18,75 [33].