Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài giữ vai trò chiến lược trong giải quyết việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội. Tại Việt Nam, hiện có khoảng 500.000 lao động đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, hàng năm gửi về nguồn kiều hối lên đến 1,6 tỷ USD. Báo cáo Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh nhiệm vụ: "bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động" khi tham gia thị trường quốc tế. Tại tỉnh Bình Định, giai đoạn 2017–2021 ghi nhận 7.274 người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, chiếm 7,23% tổng số việc làm được giải quyết trên địa bàn tỉnh với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 3,02%/năm.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này tại địa phương đang đối diện với nhiều rào cản nghiêm trọng. Tình trạng lao động vi phạm hợp đồng, tự ý bỏ trốn và cư trú bất hợp pháp tại một số thị trường chạm ngưỡng 50%, khiến 3 huyện trên địa bàn tỉnh bị tạm ngừng tuyển dụng theo chương trình cấp phép việc làm. Bên cạnh đó, sự phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý chưa đồng bộ, quy trình giám sát doanh nghiệp phái cử còn bộc lộ lỗ hổng. Luận văn hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý nhà nước giai đoạn 2017–2021 tại tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động và khai thác tối đa tiềm năng nguồn nhân lực địa phương trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết di cư lao động quốc tế và lý thuyết quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lý thuyết di cư quốc tế làm sáng tỏ các yếu tố "đẩy" như áp lực thiếu việc làm nông thôn và yếu tố "kéo" từ mức thu nhập hấp dẫn tại các quốc gia phát triển. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý công nhằm xác định chức năng điều tiết, định hướng, hỗ trợ và thanh tra của chính quyền cấp tỉnh đối với hoạt động xuất khẩu lao động.

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 69/2020/QH14. Trong đó, quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này được xác định là sự tác động có tổ chức bằng quyền lực pháp lý của các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cấp tỉnh, thông qua các công cụ quy phạm pháp luật, kế hoạch kinh tế, mã số định danh dữ liệu điện tử và thanh tra chuyên ngành. Mô hình nghiên cứu phân tích toàn diện 7 nội dung quản lý trọng tâm: từ xây dựng chiến lược, ban hành chính sách, quản trị cơ sở dữ liệu số, xúc tiến thị trường tiếp nhận, hợp tác quốc tế cho đến thanh tra, giải quyết khiếu nại và hỗ trợ tái hòa nhập.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập trực tiếp từ Văn phòng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Định, Cục Quản lý lao động ngoài nước, các Trung tâm Dịch vụ việc làm và Niên giám thống kê tỉnh Bình Định giai đoạn 2017–2021. Toàn bộ tổng thể gồm 7.274 hồ sơ người lao động xuất cảnh và 8 nhóm bảng biểu dữ liệu thống kê chuyên ngành qua 5 năm được tổng hợp và phân loại chi tiết.

Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian và so sánh đối chiếu được lựa chọn chủ đạo nhằm làm rõ biến động về quy mô, cơ cấu ngành nghề, thị trường tiếp nhận và tỷ lệ tăng trưởng qua từng năm. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm đảm bảo tính logic lịch sử, phản ánh chính xác tác động của các chính sách quản lý và biến cố kinh tế xã hội (đặc biệt là đại dịch Covid-19) đến hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Toàn bộ quy trình xử lý dữ liệu và đánh giá thực tiễn được triển khai đồng bộ trong mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2021 đến năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô lao động xuất khẩu của Bình Định duy trì đà tăng trưởng ổn định nhưng có sự phân hóa mạnh mẽ giữa các thị trường. Trong tổng số 7.274 lao động xuất cảnh giai đoạn 2017–2021, số lượng xuất cảnh tăng từ 1.983 người năm 2017 lên 2.494 người vào năm 2021. Bốn thị trường tiếp nhận chính gồm Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản và Malaysia luôn chiếm khoảng 70% tổng số lượng. Thị trường Đài Loan giữ vị trí số một khi tiếp nhận 632 người vào năm 2021 (chiếm 25,34%), Nhật Bản tăng trưởng ấn tượng đạt 287 người (chiếm 11,51%), trong khi thị trường Hàn Quốc sụt giảm từ 741 người năm 2019 (31,53%) xuống còn 568 người năm 2021 (22,77%).

Thứ hai, cơ cấu lao động xuất khẩu có sự chênh lệch lớn về địa bàn cư trú và giới tính. Lao động xuất thân từ khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng áp đảo với 2.046 người vào năm 2021 (tương ứng 82,04%), đạt mức tăng trưởng bình quân 2,09%/năm; khu vực thành thị chỉ đạt 448 người (chiếm 17,96%) dù có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn ở mức 7,59%/năm. Về cơ cấu giới tính, tỷ lệ lao động nữ luôn chiếm thế vượt trội với hơn 60% tổng số người xuất cảnh (năm 2021 có 1.546 nữ so với 948 nam).

Thứ ba, cơ cấu ngành nghề phản ánh rõ chất lượng cung ứng lao động của địa phương. Lao động làm việc trong khối ngành công nghiệp (điện tử, dệt may, cơ khí) chiếm tỷ lệ cao nhất với mức bình quân 22,51%/năm (năm 2021 đạt 530 người). Ngành xây dựng tăng trưởng nhanh chóng từ 279 người năm 2019 lên 424 người năm 2021 (chiếm 17%). Các ngành dịch vụ, giúp việc gia đình và điều dưỡng hộ lý duy trì quy mô ổn định với 576 người vào năm 2021, trong khi ngành thuyền viên đánh cá giảm sâu chỉ còn 60 người do rủi ro nghề nghiệp.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm tỷ trọng tại thị trường Hàn Quốc bắt nguồn từ nguyên nhân lao động hết hạn hợp đồng không về nước mà ở lại cư trú bất hợp pháp với tỷ lệ lên đến 50%, dẫn đến việc 3 huyện của tỉnh Bình Định bị dừng tiếp nhận lao động theo chương trình EPS. Điều này phản ánh công tác giáo dục định hướng, tuyên truyền pháp luật và ràng buộc trách nhiệm pháp lý tại địa phương còn nhiều bất cập. Ngược lại, tỷ lệ lao động nữ chiếm trên 60% xuất phát từ nhu cầu tuyển dụng lớn của các thị trường Đài Loan, Nhật Bản đối với các ngành chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng và may mặc.

Khi so sánh với kinh nghiệm quản lý của các địa phương lân cận, Bình Định còn thiếu các chính sách hỗ trợ vốn vay đặc thù như tỉnh Phú Yên (với gói hỗ trợ vay vốn ngân sách giai đoạn 2019–2021) và chưa xây dựng được mạng lưới giám sát lao động theo mô hình nhóm 10–15 người như Thành phố Hồ Chí Minh. Việc thiếu hụt Chỉ thị chuyên đề quản lý như Chỉ thị số 02/CT-UBND của thành phố Đà Nẵng (nơi đã đạt 102% kế hoạch với 510 lao động xuất cảnh năm 2020 bất chấp dịch bệnh) khiến công tác quản lý tại Bình Định còn mang tính bị động. Dữ liệu thực trạng này được luận văn trực quan hóa qua hệ thống biểu đồ cột và 8 bảng phân tích thống kê chi tiết, cung cấp bức tranh đa chiều phục vụ hoạch định chính sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch và đề án phát triển thị trường lao động ngoài nước. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định phối hợp cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần xây dựng Đề án xuất khẩu lao động giai đoạn 2022–2025, tầm nhìn 2030; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động xuất khẩu qua đào tạo nghề lên trên 65% và duy trì mức tăng trưởng xuất khẩu hàng năm từ 5% đến 7%.

Thứ hai, hiện đại hóa bộ máy quản trị bằng việc áp dụng công nghệ số và mã số định danh. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Định chủ trì triển khai cơ sở dữ liệu số hóa 100% hồ sơ người lao động xuất cảnh, kết nối trực tuyến với Cục Quản lý lao động ngoài nước trước quý IV/2023, giúp theo dõi sát sao tình trạng cư trú và lộ trình làm việc của lao động tại nước ngoài.

Thứ ba, tăng cường thanh tra, kiểm tra và siết chặt kỷ cương pháp luật. Các cơ quan chức năng cần thiết lập cơ chế giám sát định kỳ đối với các doanh nghiệp hoạt động phái cử trên địa bàn tỉnh, xử lý dứt điểm các tổ chức môi giới bất hợp pháp. Mục tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ lao động Bình Định cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc xuống dưới mức 15% vào năm 2025 nhằm tháo gỡ lệnh cấm tuyển dụng cho 3 huyện.

Thứ tư, thiết lập chính sách tín dụng ưu đãi và chương trình hỗ trợ tái hòa nhập. Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Bình Định phối hợp cùng các tổ chức đoàn thể mở rộng gói tín dụng hỗ trợ 100% chi phí xuất cảnh cho hộ nghèo, hộ chính sách; đồng thời xây dựng sàn giao dịch việc làm kết nối 80% lao động hồi hương vào làm việc tại các khu công nghiệp Long Mỹ, Phú Tài và Khu kinh tế Nhơn Hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện tại Bình Định (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các cấp). Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn và bộ giải pháp để ban hành các văn bản chỉ đạo điều hành, hoàn thiện quy trình kiểm tra doanh nghiệp và xây dựng kế hoạch giải quyết việc làm.

Nhóm 2: Các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nghiên cứu mang lại góc nhìn rõ nét về cơ cấu nguồn cung nhân lực tại Bình Định (với hơn 82% từ nông thôn và 60% là nữ giới), từ đó giúp doanh nghiệp xây dựng phương án tuyển dụng, đào tạo nghề và ngoại ngữ phù hợp với tiêu chuẩn đối tác.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế lao động. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp phân tích thực chứng, cung cấp hệ thống số liệu chuẩn xác 5 năm liên tục và khung lý thuyết quản lý nhà nước bài bản.

Nhóm 4: Người lao động và gia đình có nguyện vọng tham gia xuất khẩu lao động. Luận văn giúp người lao động nhận thức đầy đủ các quy định pháp luật theo Luật số 69/2020/QH14, nắm rõ quyền lợi bảo hộ công dân, hiểu rõ rủi ro pháp lý khi vi phạm hợp đồng và tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi chính thống.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động xuất khẩu lao động đóng góp như thế nào vào giải quyết việc làm tại Bình Định? Giai đoạn 2017–2021, toàn tỉnh đưa được 7.274 người đi làm việc ở nước ngoài, chiếm 7,23% tổng số việc làm được tạo mới với tốc độ tăng bình quân 3,02%/năm, đóng vai trò then chốt trong xóa đói giảm nghèo tại khu vực nông thôn.

Tại sao số lượng lao động Bình Định sang thị trường Hàn Quốc lại sụt giảm? Thị trường Hàn Quốc giảm tỷ trọng từ 31,53% năm 2019 xuống 22,77% năm 2021 do tỷ lệ lao động hết hạn hợp đồng không về nước lên tới 50%, khiến 3 huyện của tỉnh bị tạm dừng tuyển dụng theo chương trình EPS.

Cơ cấu lao động xuất khẩu của tỉnh Bình Định có đặc điểm nổi bật nào? Lao động nông thôn chiếm tỷ trọng áp đảo 82,04% (2.046 người năm 2021); lao động nữ chiếm trên 60% tổng số xuất cảnh, tập trung nhiều nhất vào các ngành công nghiệp chế biến, may mặc và dịch vụ chăm sóc gia đình.

Tỉnh Bình Định có thể áp dụng bài học kinh nghiệm gì từ các địa phương khác? Bình Định cần học tập gói hỗ trợ vay vốn của Phú Yên, cơ chế quản lý người lao động theo tổ nhóm 10–15 người của Thành phố Hồ Chí Minh và mô hình ban hành Chỉ thị quản lý tập trung số 02/CT-UBND như thành phố Đà Nẵng.

Luật số 69/2020/QH14 mang lại những điểm mới nào cho công tác quản lý lao động ngoài nước? Luật quy định bắt buộc quản lý người lao động bằng mã số định danh tích hợp trên hệ thống cơ sở dữ liệu số, đồng thời mở rộng quyền bảo hộ, cho phép người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bị ngược đãi hoặc cưỡng bức.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về di cư lao động quốc tế theo quy định của Luật số 69/2020/QH14.
  • Đánh giá thực trạng 7.274 lao động Bình Định xuất cảnh giai đoạn 2017–2021 với 4 thị trường trọng điểm: Đài Loan (25,34%), Hàn Quốc (22,77%), Nhật Bản (11,51%) và Malaysia (10,26%).
  • Chỉ rõ những nút thắt căn bản về tỷ lệ cư trú bất hợp pháp 50% tại thị trường Hàn Quốc và khoảng trống trong liên kết quản trị giữa chính quyền với doanh nghiệp phái cử.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với chuyển đổi số, siết chặt thanh tra và xây dựng gói tín dụng hỗ trợ việc làm giai đoạn 2022–2025.
  • Xác lập mô hình hỗ trợ tái hòa nhập, kết nối nguồn nhân lực có tay nghề sau xuất khẩu vào các khu công nghiệp trọng điểm của địa phương.

Luận văn đóng góp khung phân tích thực tiễn sắc bén, đóng vai trò nền tảng khoa học cho việc ban hành các chính sách lao động ngoài nước tại Bình Định giai đoạn 2022–2030. Các cấp chính quyền địa phương, cơ quan quản lý chuyên trách và doanh nghiệp phái cử cần nhanh chóng nghiên cứu, triển khai đồng bộ các khuyến nghị của đề tài nhằm xây dựng một thị trường xuất khẩu lao động minh bạch, an toàn và bền vững.