chương 1. Các tài liệu, công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc thuộc lĩnh vực nghiên cứu của đề tài đã khái quát những nét chủ yếu về vị trí, vai trò của nhà nƣớc trong quản lý về lao động nói chung, về quản lý lao động trong các doanh nghiệp nói riêng; cũng đã bƣớc đầu xác định đƣợc chủ thể, khách thể, nội dung, phƣơng thức của quản lý lao động trong nền kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên, điểm qua các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nƣớc về lao động nói chung và quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp nói riêng ở nƣớc ta hiện nay là chƣa nhiều. Nếu có thì các nghiên cứu này cũng chƣa giải đáp một cách toàn diện từ lý luận đến thực tiễn; chƣa đủ để hình dung một cách trọn vẹn hoạt động quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp, đặc biệt trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật để xây dựng “quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ”.
Điều này ảnh hƣởng không nhỏ tới việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật, tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay. Nhƣ vậy, còn một số vấn đề nghiên cứu cần tiếp tục luận giải và làm rõ trong luận án: Một là: Nội dung, phƣơng thức, vai trò của Nhà nƣớc và quan niệm quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nƣớc. Hai là: Thực trạng, xác định nguyên nhân làm giảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Ba là: Đề xuất giải pháp đồng bộ, theo lộ trình, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 2. Quan niệm quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp Trong nghiên cứu lý luận về nhà nƣớc và pháp luật ở Việt Nam hiện nay, cụm từ “quản lý nhà nước” thƣờng đƣợc giải thích theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp của của nó. Hiểu theo nghĩa rộng thì quản lý nhà nước là phần quản lý xã hội do nhà nước đảm nhận, là sự tác động của chủ thể mang quyền lực nhà nước tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Quản lý công việc nhà nƣớc (hay “quản lý nhà nước” hiểu theo nghĩa rộng) đƣợc thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nƣớc, trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tƣ pháp [45, tr.
Hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lý nhà nƣớc là quản lý hành chính nhà nước – quản lý nhà nước trên lĩnh vực hành pháp và chủ yếu được giao cho các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Khi nói tới quản lý nhà nƣớc về lao động trong các doanh nghiệp không chỉ giới hạn “sự tác động” bằng quản lý hành chính của nhà nƣớc tới lĩnh vực lao động trong các doanh nghiệp, mặc dù đây là hoạt động diễn ra thƣờng xuyên và là khâu đặc biệt quan trọng trong tổ chức thực hiện pháp luật. Do vậy, để hiểu đầy đủ hơn “quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp”, luận án cần hiểu theo nghĩa rộng của cụm từ này. Trƣớc tiên, nói về quản lý nhà nƣớc và quản lý xã hội nói chung, khi xã hội loài ngƣời hình thành, nhu cầu quản lý, định hƣớng sự phát triển xã hội trở thành yêu cầu mang tính khách quan.
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, đã có nhiều học giả trong, ngoài nƣớc đƣa ra giải thích về “quản lý”. Thực tế cuộc sống cho thấy, để nghiên cứu về quản lý, cần có nhiều môn khoa học khác nhau: một số môn khoa học chỉ nghiên cứu thuần túy các vấn đề quản lý, một số môn khoa học khác chỉ góp phần vào việc 19 z nghiên cứu quản lý nhƣ là cơ sở phƣơng pháp luận và cơ sở khoa học của chính khoa học quản lý. Càng ngày lý luận quản lý càng tích luỹ họcm nhiều tri thức mới, nhƣng cho đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Bƣớc sang thế kỷ XXI, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú.
Theo Trƣờng Đại học Kinh doanh – Đại học Havard (Hoa Kỳ), dƣới góc độ thực tiễn hiệu quả quản lý thì có thể liệt kê ra một số quan niệm cơ bản nhƣ: Fayel: Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có. Nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh, kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát. Hard Koont: Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trƣờng tốt giúp con ngƣời hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định.
Peter F Druker: Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự lô–gích mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích [101]. Trƣớc những năm 30 của thế kỷ XX, khi nói tới quản lý và quản lý nhà nƣớc, ngƣời ta thƣờng mới chỉ lƣu ý đến việc sử dụng pháp luật nghiêm minh, hợp lý hóa, tinh giản bộ máy tổ chức; chú ý giải quyết một cách hợp lý quan hệ giữa trách nhiệm – quyền hạn, nghĩa vụ – quyền lợi, kỷ luật – khen thƣởng…; đồng thời, xem việc giải quyết tốt các vấn đề đó là động lực thúc đẩy và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc. Việc chỉ biết đến các động lực có tính quy phạm, pháp lệnh “lạnh lùng” tuy có đem lại những hiệu quả nhất định trƣớc mắt nhƣng không phát huy đƣợc tối đa tính tích cực xã hội lâu dài của con ngƣời, của cộng đồng và toàn xã hội… Từ sau những năm 30 của thế kỷ XX, trong khi vẫn coi trọng tính quy phạm, kỷ cƣơng, ngƣời ta bắt đầu chú ý đến vấn đề con người trong quản lý [53].
Trong hệ thống cơ quan nhà nƣớc và trong hoạt động quản lý nhà nƣớc, ngƣời ta cũng chú trọng phát triển các tổ chức xã hội. Sử dụng các tổ chức này nhƣ một kênh, một công cụ hữu hiệu để cùng với nhà nƣớc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc. Nghiên cứu tiến 20 z trình phát triển của quản lý nhà nƣớc ở các nƣớc phƣơng Tây hiện đại cũng cho minh chứng rằng, vai trò của tổ chức xã hội trong quản lý có xu thế tiếp tục gia tăng và chứng kiến sự phát triển của xã hội dân sự, xã hội công dân nhƣ là một trong những tất yếu khách quan trong sự vận động xã hội và quản lý xã hội, quản lý nhà nƣớc. Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội, là phần quản lý xã hội do nhà nƣớc đảm nhận.
Cũng có điều cần nhấn mạnh thêm là: quan điểm của hầu hết các nhà nƣớc tiến bộ, dân chủ ngày nay đều coi rằng, những công việc này là sự ủy quyền của xã hội, của ngƣời dân cho nhà nƣớc thực hiện [27]. Bởi lẽ, nhà nƣớc cũng nhƣ quyền lực nhà nƣớc vốn dĩ phải là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quản lý nhà nƣớc không chỉ vì tự thân nó mà phải trƣớc tiên và quan trọng nhất nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân. Nhà nƣớc sinh ra để phục vụ nhân dân.
Quản lý nhà nƣớc điều chỉnh và hƣớng hành vi của các chủ thể trong xã hội diễn ra phù hợp với lợi ích chung trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của ngƣời dân và các chủ thể liên quan trong xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, trong nghiên cứu lý luận nhà nƣớc và pháp luật, phần lớn đều xuất phát từ khái niệm chung của “quản lý” để lý giải các khái niệm khác có liên quan. Hiểu theo cách chung nhất, quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định [45, tr. Quản lý do nhiều chủ thể khác nhau cùng tiến hành với những mục tiêu cụ thể khác nhau.
Một trong những đặc trƣng cơ bản của quản lý đó là sử dụng quyền lực để “bắt buộc” đối tƣợng quản lý phục tùng nhằm mục tiêu thiết lập trật tự chung, mang lại lợi ích cho một tập thể, một cộng đồng nhất định. Tuy nhiên, quan niệm này chƣa thể hiện hết đƣợc mục tiêu của quản lý nhà nƣớc. Bởi lẽ, nó mới chỉ dừng lại ở mục tiêu vì bản thân nhà quản lý, vì bộ máy nhà nƣớc mà chƣa đề cập mục tiêu cao hơn của quản lý nhà nƣớc là vì ngƣời dân, vì đối tƣợng quản lý và vì xã hội. Trong xã hội văn minh, luật pháp – công cụ quản lý nhà nƣớc chủ yếu – không là công cụ để cai trị xã hội, mà phải là phƣơng tiện để bảo vệ các quyền công dân, quyền con ngƣời, bảo vệ xã hội.
Mục tiêu, phạm vi, phương thức quản lý nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp Nhƣ chúng ta đã biết, quản lý nhà nƣớc là một dạng hoạt động có chủ ý, do đó nó cũng bao gồm: ai làm? làm gì? với ai? để làm gì? bằng cách nào?. Với cách nhìn này sẽ thấy rõ hơn những khía cạnh biểu hiện cụ thể của hoạt động quản lý nhà nƣớc đối với xã hội. Đối với hoạt động quản lý nhà nƣớc nói chung có thể hiểu là: chủ thể quản lý nhà nƣớc (ai làm?) – các cơ quan nhà nƣớc; tác động gì (làm gì?) – phạm vi, nội dung quản lý nhà nƣớc; chủ thể chịu sự tác động của hoạt động (với ai?) – khách thể của hoạt động quản lý là các tổ chức, cá nhân liên quan; công cụ, phƣơng tiện, cách thức tác động (bằng cách nào?) – phƣơng thức quản lý nhà nƣớc; và để nhằm đạt mục tiêu (để làm gì?) của quản lý nhà nƣớc. Trong những nội dung này, chủ thể và đối tƣợng quản lý nhà nƣớc là khá rõ ràng cho nên cần bàn sâu hơn là: mục tiêu, phạm vi, nội dung, phƣơng thức quản lý nhà nƣớc.
Phạm vi quản lý của nhà nƣớc là khoảng giới hạn mà nhà nƣớc xác định cần có sự tác động của mình – tức cần sự tác động bằng quyền lực nhà nƣớc [112, tr.