phần mở đầu , kế t luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , nội dung của đề tài bao gồm 3 chương, 6 tiết: Chƣơng 1: Lý luận Mác-Lênin về Công đoàn và chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động của Công đoàn. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người lao động của Công đoàn Dệt May trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Chƣơng 3: Mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn Dệt May đối với việc thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong điều kiện hội nhập quốc tế. 9 z Chƣơng 1 LÝ LUẬN MÁC-LÊNIN VỀ CÔNG ĐOÀN VÀ CHỨC NĂNG BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH NGƢỜI LAO ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN 1.
Quan điểm của C.Lênin về Công đoàn và chức năng bảo vệ quyền, lợi ích ngƣời lao động của Công đoàn 1. Quan điểm của C.Ăngghen về Công đoàn và chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động của Công đoàn Thông qua thực tiễn sống động của phong trào công nhân, Công đoàn thế kỷ XIX ở Châu Âu và bằng hoạt động lý luận khoa học của mình C.Ăngghen (28-10-1820) đã luận chứng cho tính tất yếu về hoàn cảnh ra đời, vị trí, chức năng của Công đoàn trong trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Theo lý luận của C.Ăngghen, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân bắt nguồn từ sự phản kháng của công nhân chống lại sự áp bức bất công của giới chủ. Trong cuộc đấu tranh đó, giai cấp vô sản đã sáng tạo ra các biện pháp, hình thức đấu tranh của mình.
Hình thức sớm nhất, thô sơ nhất và ít hiệu quả nhất của sự phản kháng ấy là phạm tội ăn trộm và sau đó là các hành vi đập phá máy móc, nhà xưởng, kho hàng, phá hỏng nguyên vật liệu, thành phẩm… Nhìn chung các hình thức phản kháng ấy vẫn mang tính chất cô lập, bị hạn chế ở những khu vực cá biệt và chỉ nhằm chống một mặt của quan hệ hiện hành. Các hành vi này đã không những không thể cải thiện được, mà còn làm trầm trọng thêm tình cảnh khốn cùng của người lao động làm thuê. Dần dần, công nhân đã tìm ra hình thức đấu tranh mới có hiệu quả hơn. Đó là việc tập hợp lực lượng tiến hành hoạt động đình công, bãi công trong việc đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc…Tuy nhiên, tư bản là một lực lượng xã hội tập trung, nó đã kịp thời sử dụng mọi ưu thế sẵn có để phá hoại hoạt động đó.
Đặc biệt, trong những cuộc bãi công bộ phận, nhỏ lẻ, chủ xưởng rất dễ dàng phá hoại đình công, bãi công bằng cách sử dụng thiểu số công nhân phản bội (Knobstics - những con cừu ghẻ) hoặc tuyển mộ những người nông dân không còn ruộng đất đi lang thang tìm việc (tramper), hay những người công nhân nơi khác vào thay 10 z thế v. Những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác chỉ rõ, trong cuộc chiến không cân sức đó, sức mạnh xã hội của công nhân chỉ còn nằm trong số lượng của họ. Nhưng sức mạnh của ưu thế về số lượng đó bị mất đi vì chính bản thân tính chất rời rạc của họ tạo ra và tiếp tục tồn tại do hậu quả của sự cạnh tranh tất yếu giữa bản thân họ. Qua kinh nghiệm giai cấp công nhân hiểu rằng việc phân tán lực lượng có ảnh hưởng nguy hại đến kết quả hoạt động của cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản.
Để khắc phục những hạn chế nói trên, công nhân buộc phải đoàn kết và tổ chức lại trong các hiệp hội. Trong quá trình tập hợp lực lượng tiến hành đình công, bãi công đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc, công nhân đã tổ schức ra các hiệp hội riêng của mình (tức Công đoàn), lúc đầu có tính bí mật, sau đó hoạt động công khai khi Hạ nghị viện Anh (năm 1824) thông qua đạo luật thừa nhận quyền lập hội của công nhân. Chính các cuộc đấu tranh của công nhân, trong đó điển hình là công nhân trong các xưởng dệt may ở Anh, Pháp và đặc biệt là cuộc đấu tranh của công nhân dệt Xilêdi ở Đức năm 1844, đã thúc đẩy sự ra đời các tổ chức Công đoàn (trade uions) ở Châu Âu, sau đó lan tỏa nhanh chóng sang Mỹ và nhiều khu vực khác trên thế giới. Mục đích của những Công đoàn ấy là: quy định tiền lương, tạo thành một lực lượng để điều đình tập thể với giới chủ, tăng lương khi cần thiết và giữ vững mức lương chung.
Đây là một bước tiến lớn trên con đường chuyển biến của những người công nhân từ chỗ hành động phân tán đến hành động thống nhất, từ tản mạn đến có tổ chức, đoàn kết lực lượng để chống lại bọn chủ một cách kiên quyết và có hiệu quả hơn.Mác, sự ra đời của Công đoàn bắt nguồn từ hiện thực xã hội, có có tính khách quan do yêu cầu của phong trào công nhân nhằm thống nhất lực lượng trên bước đường đấu tranh chống tư sản: “Các Công đoàn xuất hiện lúc đầu là nhờ những ý đồ tự phát của công nhân muốn tiêu diệt hay ít nhất là giảm bớt sự cạnh tranh ấy đề đòi những điều kiện ký kết hợp đồng có thể cho họ đời sống khá hơn những người những người nô lệ một chút thôi” [38, tr. Theo học thuyết của C.Ăngghen, sự ra đời của Công đoàn không chỉ là hiện tượng hợp quy luật, mà còn là bức thiết khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa còn tồn tại. Đối với Mác, tổ chức Công đoàn ra đời để tập hợp 11 z công nhân lao động đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống lại sự đàn áp của giai cấp tư sản. Vì vậy trong chế độ tư bản chủ nghĩa, Công đoàn đại diện cho quần chúng lao động đứng đối lập với giai cấp bóc lột [69, tr.
Công nghiệp hiện đại càng phát triển, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì càng thúc đẩy sự hình thành và hoạt động của các hiệp hội với hai mục đích rõ ràng: chấm dứt sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau để chung sức chống lại tư bản, và đoàn kết đấu tranh để bảo vệ tiền công. Song tư bản là một lực lượng xã hội tập trung, còn công nhân thì chỉ có sức lao động của mình. Do đó, tất yếu hợp đồng giữa tư bản và lao động không bao giờ có thể được ký kết theo những điều kiện hợp lý trong điều kiện quyền sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa những phương tiện sinh hoạt vật chất và lao động đối lập với lực lượng sản xuất sống. Vì vậy, để có thể thay đổi được địa vị làm thuê, bị áp bức bóc lột, giai cấp công nhân, trong quá trình chuyển biến từ tự phát lên tự giác, từ “giai cấp tự mình” đến “giai cấp vì mình” thì tất yếu, hoạt động của Công đoàn không chỉ trong phạm vi hẹp có tính phường hội, phải có một tổ chức trưởng thành từ trong bản thân cuộc đấu tranh kinh tế rời rạc của công nhân ở khắp nơi, đó là tổ chức Công đoàn.
Đây là một bước tiến lớn trên con đường chuyển biến của những người công nhân từ chỗ hành động phân tán đến hành động thống nhất, từ tản mạn đến có tổ chức, đoàn kết các lực lượng để chống trả bọn chủ một cách kiên quyết và có hiệu quả hơn. Các Công đoàn cũng phải rèn luyện để hoạt động tự giác với tư cách là những trung tâm tổ chức công nhân, thì giai cấp công nhân phải “Lập ra tổ chức Công đoàn ở tất cả các nước và liên hiệp các công đoàn ấy lại” [38, tr. Hoạt động Công đoàn không chỉ giới hạn trong việc đấu tranh về kinh tế, mà phải đặt ra cho mình nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn giai cấp công nhân.Mác khẳng định: “Các Công đoàn đã trở thành những trung tâm tổ chức đối với công nhân cũng giống như những thị xã và công xã thời trung cổ là những trung tâm tổ chức đối với giai cấp tư sản. Nếu Công đoàn cần thiết cho cuộc đấu tranh du kích giữa tư bản và lao động, thì Công đoàn lại càng quan trọng hơn với tư cách là một lực lượng có tổ chức để tiêu diệt bản thân chế độ lao động làm thuê và quyền lực của tư bản” [38, tr.
Lý luận về Công đoàn của C.Ăngghen gắn liền với học thuyết về giai cấp công nhân, về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Theo lý 12 z luận này, sự ra đời Công đoàn không phải từ nguồn gốc siêu tự nhiên, không phải từ nguồn gốc tôn giáo và Công đoàn ra đời, tồn tại, phát triển càng không phải là ngẫu nhiên. Công đoàn ra đời tất yếu từ hiện thực kinh tế - xã hội, là kết quả của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại chế độ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Chức năng bảo vệ lợi ích của Công đoàn là chức năng vốn có, chức năng bẩm sinh.
Có thể nói việc thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích của người công nhân, người lao động là lý do tồn tại, lý do hoạt động của tổ chức Công đoàn. Đó là chức năng đặc trưng vốn có để phân biệt với các tổ chức, thiết chế xã hội khác trong xã hội. Trong mỗi lĩnh vực, nghề nghiệp, việc thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích thông qua các biện pháp, hình thức cụ thể tương ứng với tình trạng quan hệ lao động trong lĩnh vực, phạm vi ngành nghề đó. Với tư cách là tổ chức của giai cấp công nhân, giai cấp bị thống trị, bị bóc lột về kinh tế, bị áp bức về chính trị, Công đoàn trở thành trung tâm tập hợp lực lượng phản kháng chống lại áp bức bóc lột, chống lại chế độ làm thuê đóng vai trò là trường học đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân.
Hoạt động của Công đoàn trong CNTB là tập hợp, vận động CNLĐ đấu tranh với giới chủ bằng hình thức đình công và bãi công, dùng hành động tập thể làm ngừng trệ sản xuất, đánh trực tiếp vào cơ sở kinh tế của CNTB, lấy sức mạnh để chống lại sức mạnh [69, tr. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mặc dù chủ nghĩa tư bản đã có nhiều điều chỉnh để thích nghi trong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ. Chẳng hạn như người công nhân, lao động có thể tham gia mua cổ phần, cổ phiếu trong các hãng, doanh nghiệp, các chính sách khuyến khích tiêu dùng, chính sách an sinh xã hội được chú ý v.