Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hương Lan với đề tài "Bảo hộ công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động", thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính (mã số: 9.02), được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Ngọc Vượng và PGS. Lê Mai Thanh.

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Bảo hộ công dân (BHCD) nói chung và bảo hộ công dân đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động (ĐƯQTVHTLĐ) nói riêng là trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ của Nhà nước đối với công dân của mình. Cơ sở hiến định của hoạt động này được ghi nhận trực tiếp tại Khoản 1 Điều 14 và Khoản 3 Điều 17 Hiến pháp năm 2013: "công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ".

Sau hơn 35 năm Đổi mới và hội nhập quốc tế, quy mô di chuyển lao động của Việt Nam ra nước ngoài gia tăng nhanh chóng. Nguồn lực lao động di cư đóng góp lớn vào phát triển kinh tế - xã hội và nguồn thu ngoại tệ; riêng năm 2020, lượng kiều hối gửi về Việt Nam đạt 15,686 tỉ USD (tương đương 5,8% GDP), đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia tiếp nhận kiều hối hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, người lao động Việt Nam ở nước ngoài thường là nhóm yếu thế tại nước sở tại, phải đối mặt với nhiều rủi ro:

  • Bất ổn chính trị, xung đột vũ trang, thiên tai, dịch bệnh toàn cầu.
  • Môi trường lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; tình trạng bị lạm dụng, đánh đập, bóc lột sức lao động.
  • Bị vi phạm thỏa thuận về tiền lương, phân biệt đối xử so với lao động bản xứ.
  • Rào cản về ngôn ngữ, phong tục tập quán, hiểu biết pháp luật hạn chế dẫn đến vi phạm quy định sở tại.

Trong khi nhu cầu bảo hộ tăng cao, năng lực đáp ứng thực tế còn nhiều hạn chế: mạng lưới cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự còn mỏng (96 cơ quan đại diện trên hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ), nhân sự kiêm nhiệm nhiều mảng công tác (5–7 cán bộ/cơ quan), khoảng cách địa lý xa xôi và nguồn kinh phí từ Quỹ Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài chủ yếu hoạt động theo nguyên tắc tạm ứng - hoàn trả. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình chuyên khảo pháp lý toàn diện, làm rõ cơ chế bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam theo các ĐƯQTVHTLĐ cả trong điều kiện thông thường và tình huống khủng hoảng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý quốc tế và pháp luật Việt Nam về BHCD Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành; từ đó cung cấp luận cứ khoa học để đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nhận diện và làm rõ các vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý về BHCD Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ.
    2. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo hộ người lao động Việt Nam ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ; chỉ rõ các kết quả đạt được, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
    3. Đề xuất quan điểm, phương hướng và các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện bảo hộ công dân trong bối cảnh mới.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác định 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. BHCD Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ được luận giải như thế nào? Cơ sở pháp lý nào quy định về vấn đề này hiện nay?
  2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn công tác BHCD Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ diễn ra như thế nào? Đạt được thành tựu gì và tồn tại những hạn chế, nguyên nhân nào?
  3. Cần xác lập những quan điểm và giải pháp cụ thể nào để nâng cao hiệu quả BHCD Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ?

Tương ứng với các câu hỏi trên, 3 giả thuyết nghiên cứu được đưa ra:

  • (i) BHCD đi làm việc ở nước ngoài là nghĩa vụ của Nhà nước; do đặc thù là nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương tại nước sở tại nên nhu cầu được bảo hộ luôn hiện hữu và đòi hỏi phải có cơ chế pháp lý đặc thù.
  • (ii) Hệ thống pháp luật và thực tiễn tổ chức thi hành pháp luật về BHCD của Việt Nam thời gian qua tuy đã có bước tiến bộ nhưng vẫn còn bộc lộ nhiều điểm bất cập, chưa thích ứng đầy đủ với các tình huống phức tạp của quan hệ quốc tế hiện đại.
  • (iii) Cần hoàn thiện đồng bộ thể chế pháp luật, đổi mới tổ chức thi hành, nâng cao năng lực các cơ quan đại diện và Quỹ BHCD, kết hợp nâng cao năng lực tự bảo vệ của người lao động theo hướng tiếp cận quyền con người.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các học thuyết, lý luận khoa học pháp lý; hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về BHCD đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ; thực trạng thực hiện quy định và thực tiễn hoạt động BHCD; kinh nghiệm của một số quốc gia về bảo hộ công dân trong tình trạng khủng hoảng.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào cơ chế bảo hộ pháp lý đối với công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ. Không nghiên cứu các đối tượng xuất cảnh trái phép, người lao động tự do không có hợp đồng, chuyên gia nước ngoài hoặc người lao động không mang quốc tịch Việt Nam.
    • Về thời gian: Phân tích thực trạng từ năm 1992 (thời điểm đẩy mạnh công cuộc Đổi mới, mở cửa và thúc đẩy xuất khẩu lao động) đến năm 2021.
    • Về không gian: Khảo sát thực tiễn tại các quốc gia và vùng lãnh thổ tiếp nhận số lượng lớn lao động Việt Nam, nằm ngoài quyền tài phán lãnh thổ của Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Cơ sở lý luận về bảo hộ ngoại giao và bảo hộ công dân: Edwin M. Borchard với các công trình kinh điển "Basic Elements of Diplomatic Protection of Citizens Abroad" (1913), "Diplomatic Protection of Citizens Abroad" (1916) và "Protection of Citizens Abroad and Change of Original Nationality" (1934) đã đặt nền móng về mối quan hệ trách nhiệm hai chiều giữa quốc gia và công dân khi công dân ở nước ngoài, sự khác biệt giữa hệ thống Civil Law và Common Law trong bảo hộ công dân.
  • Bảo vệ quyền lao động di cư và bình đẳng giới: Tác giả Zhou Hui trong "The Legal Protection of Chinese Citizens' Equal Employment Rights – A Perspective of International Law & Comparative Law" phân tích quyền lao động bình đẳng dưới góc độ quyền con người theo luật quốc tế. Madalina Bianca Moraru (2011) trong "Protection of EU citizens abroad..." xem xét quyền tiếp cận bảo hộ ngoại giao và lãnh sự của công dân Liên minh Châu Âu khi bị phân biệt đối xử tại nước thứ ba.
  • Nguyên tắc pháp lý quốc tế và nhân quyền: Guy I. Leigh (1971) với "Nationality and Diplomatic Protection"; các bài nghiên cứu trên Tạp chí American Journal of International Law (1975, 1976) của McDougal, Harold Lasswell và Lung-chu Chen chỉ ra sự gắn kết giữa trách nhiệm quốc gia với các chuẩn mực nhân quyền quốc tế và phê phán việc gắn hoạt động bảo hộ công dân với các động cơ chính trị đơn thuần.

Các nghiên cứu trong nước

  • Về lý luận và cơ chế pháp lý bảo hộ công dân:
    • Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao (2013) với cuốn "Sổ tay Công tác lãnh sự ở ngoài nước" phân định khái niệm bảo hộ công dân theo nghĩa hẹp (can thiệp khi quyền lợi bị xâm hại) và nghĩa rộng (bao gồm hoạt động hỗ trợ toàn diện).
    • Đề tài cấp Bộ của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam do PGS. Lê Mai Thanh làm chủ nhiệm (2020) nghiên cứu "Cơ sở pháp lý bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài".
    • Luận án tiến sĩ của Phan Thanh Hà (2016) về "Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam" phân chia hai phương thức bảo hộ: nguyên phát (sơ cấp) và thứ phát (thứ cấp).
    • Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Phụng (2006) phân tích cơ chế bảo vệ người lao động trong nền kinh tế thị trường.
    • Các nghiên cứu của Nguyễn Phú Bình (1998), Nguyễn Công Khanh (1997), Nguyễn Thị Kim Ngân (2018), Đỗ Quý Hoàng (2016), Mạc Thị Hoài Thương và Trần Thị Thu Thủy (2016).
  • Về công tác quản lý và xuất khẩu lao động:
    • Luận án của Nguyễn Lương Trào (1994), Trần Văn Hằng (1996), Nguyễn Thị Phương Linh (2004), Lê Hồng Huyên (2011), Phạm Thị Hoàn (2011) tiếp cận dưới góc độ kinh tế lao động, quản lý nhà nước về di chuyển lao động và tài chính xuất khẩu lao động.
    • Sách chuyên khảo của Nguyễn Thị Hồng Bích và nhóm tác giả (2007) phân tích kinh nghiệm xuất khẩu lao động của Philippines, Indonesia, Thái Lan, Malaysia.
    • Các tài liệu thực tiễn từ Báo cáo rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III (2018) của Nhóm Công tác liên ngành 18 cơ quan và số liệu bảo hộ công dân trong giai đoạn đại dịch Covid-19 từ Bộ Ngoại giao.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHOẢNG TRỐNG KHOA HỌC

[Nghiên cứu quốc tế]                [Nghiên cứu trong nước]
- Lý thuyết bảo hộ ngoại giao       - Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
- Chuẩn mực nhân quyền quốc tế      - Lý luận bảo hộ công dân chung
- Quyền công dân EU / Trung Quốc    - Pháp luật lao động trong nước
                 \                      /
                  \                    /
            [KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU]
            - Chưa phân hóa sâu nhóm lao động di cư theo ĐƯQTVHTLĐ
            - Thiếu cơ chế pháp lý đặc thù xử lý tình huống khủng hoảng
            - Chưa kết nối đa ngành: Luật Hiến pháp - Quốc tế - Lao động

Khoảng trống nghiên cứu được giải quyết

Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận hoạt động xuất khẩu lao động dưới góc độ kinh tế học hoặc nghiên cứu bảo hộ công dân ở phạm vi trong nước/bảo hộ ngoại giao chung chung. Luận án này tập trung chuyên sâu vào cơ chế bảo hộ pháp lý đối với riêng nhóm người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ, kết hợp giữa luật quốc tế, luật hiến pháp và luật lao động, giải quyết cả điều kiện thông thường lẫn các tình huống khủng hoảng và khẩn cấp.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Các lý thuyết và khung phân tích nền tảng

  1. Lý thuyết về chủ quyền nhân dân: Khẳng định nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước; quyền lực nhà nước do nhân dân ủy quyền cho bộ máy nhà nước nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh và Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013). Theo lý thuyết này, mọi công dân khi ở nước ngoài đều có quyền yêu cầu và được Nhà nước bảo hộ hợp pháp.
  2. Lý thuyết quản trị nhà nước hiện đại: Chuyển đổi tư duy từ "quản lý nhà nước" (mang tính mệnh lệnh đơn phương) sang "quản trị nhà nước" (nhấn mạnh sự tương tác hai chiều, trách nhiệm giải trình, tính công khai, minh bạch và cung cấp dịch vụ công). Hoạt động bảo hộ công dân được tiếp cận như một dịch vụ công thiết yếu mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp nhằm bảo đảm quyền lợi của công dân ở ngoài phạm vi lãnh thổ.
  3. Lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền (Human Rights-Based Approach - HRBA): Lấy con người và quyền con người làm trung tâm của mọi chính sách. Tiếp cận dựa trên quyền đòi hỏi không xem người lao động là đối tượng thụ động chờ đợi sự bảo hộ, mà phải trao quyền, nâng cao nhận thức pháp luật và năng lực tự bảo vệ cho người lao động trong suốt quá trình làm việc tại nước ngoài.
KHUNG PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN

+-------------------------------------------------------------+
|              LÝ THUYẾT CHỦ QUYỀN NHÂN DÂN                   |
|  - Quyền lực thuộc về nhân dân; Nhà nước là công bộc        |
|  - Nghĩa vụ hiến định của Nhà nước bảo hộ công dân ở ngoài nước |
+------------------------------+------------------------------+
                               |
                               v
+-------------------------------------------------------------+
|           LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC HIỆN ĐẠI              |
|  - Nhà nước cung ứng dịch vụ công bảo hộ công dân           |
|  - Đề cao trách nhiệm giải trình và cơ chế phối hợp         |
+------------------------------+------------------------------+
                               |
                               v
+-------------------------------------------------------------+
|        LÝ THUYẾT TIẾP CẬN DỰA TRÊN QUYỀN (HRBA)             |
|  - Người lao động là chủ thể quyền                          |
|  - Nâng cao năng lực tự bảo vệ và trách nhiệm của Nhà nước  |
+-------------------------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phối hợp linh hoạt các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Thu thập, tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật, hiệp định song phương, đa phương và báo cáo chuyên môn.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Luận giải các khái niệm, quy định pháp luật và đánh giá kết quả thực tiễn thi hành.
  • Phương pháp luật so sánh: Khảo cứu quy định của các công ước quốc tế (Công ước Viên 1963, 1969, 1986; Công ước La Hay 1930) và kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia, khu vực (EU, ASEAN, Trung Quốc, Philippines...) để rút ra bài học cho Việt Nam.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý các dữ liệu định lượng về số lượng người lao động di cư, cơ cấu giới tính, lượng kiều hối, số vụ việc bảo hộ công dân qua các thời kỳ.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp kiến thức khoa học Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Quốc tế và Luật Lao động.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013; Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2006; Luật Điều ước quốc tế năm 2016; Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 (và sửa đổi năm 2020).
  • Các điều ước quốc tế: Công ước Viên năm 1969 và 1986 về Luật Điều ước quốc tế; Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ lãnh sự; Công ước La Hay năm 1930 về Một số vấn đề liên quan đến xung đột luật quốc tịch; Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948; Hướng dẫn trợ giúp lãnh sự cho công dân các nước ASEAN tại nước thứ ba (2018).
  • Dữ liệu thống kê từ Bộ Ngoại giao, Cục Lãnh sự, Quỹ Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Di dân quốc tế (IOM).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và các câu hỏi nghiên cứu đặt ra

Chương này tập trung rà soát toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hoạt động bảo hộ công dân, quản lý xuất khẩu lao động và di chuyển lao động quốc tế. Tác giả phân tích các luận điểm đã được làm sáng tỏ, chỉ ra các khoảng trống khoa học về bảo hộ người lao động theo các ĐƯQTVHTLĐ; xác lập hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu và 3 giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ cấu trúc luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo hộ công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động

Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài:

  • Khái niệm và hình thức lao động di cư theo ĐƯQTVHTLĐ: Dựa trên Công ước Viên 1969, 1986 và Luật Điều ước quốc tế 2016, tác giả định nghĩa ĐƯQTVHTLĐ và xác lập 4 hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài:
    1. Qua doanh nghiệp dịch vụ: Chiếm khoảng 80% tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài hàng năm.
    2. Theo hợp đồng trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài: Từ năm 2007 mới có 18 doanh nghiệp báo cáo đưa 3.060 lượt lao động đi làm việc (trong đó 2.732 lao động tại Lào và Campuchia).
    3. Qua các tổ chức sự nghiệp (chuyên gia): Đưa chuyên gia y tế, giáo dục, nông nghiệp... không vì mục đích lợi nhuận, quyền lợi được đảm bảo chặt chẽ.
    4. Theo hợp đồng cá nhân: Người lao động ký trực tiếp và đăng ký với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
CƠ CẤU CÁC HÌNH THỨC ĐƯA LAO ĐỘNG VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI

+-------------------------------------------------------+---------+
| Hình thức phái cử                                     | Tỷ trọng|
+-------------------------------------------------------+---------+
| Doanh nghiệp dịch vụ (Xuất khẩu lao động)             | ~ 80%   |
| Hợp đồng trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài  | Nhỏ     |
| Tổ chức sự nghiệp (Phái cử chuyên gia ngành)          | Nhỏ     |
| Hợp đồng cá nhân trực tiếp                            | Nhỏ     |
+-------------------------------------------------------+---------+
  • Khái niệm BHCD theo ĐƯQTVHTLĐ: Là việc Nhà nước áp dụng các biện pháp can thiệp hợp pháp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc cung cấp sự giúp đỡ về mọi mặt cho công dân đi làm việc ở nước ngoài theo ĐƯQTVHTLĐ khi họ gặp khó khăn, hoạn nạn, rủi ro mà bản thân không thể tự khắc phục.
  • Đặc điểm cơ bản: Hoạt động bảo hộ bảo đảm các quyền nhân thân và tài sản của công dân ở nước ngoài hợp pháp; hỗ trợ thủ tục hành chính, lãnh sự; can thiệp khi có hành vi vi phạm từ nước sở tại hoặc hỗ trợ nhân đạo khi xảy ra sự cố; cơ sở pháp lý kết hợp đa tầng (luật Việt Nam, luật quốc tế và luật nước tiếp nhận); chủ thể có thẩm quyền gồm các cơ quan trong nước và mạng lưới cơ quan đại diện tại nước ngoài.
  • Điều kiện bảo hộ theo luật quốc tế:
    • Điều kiện quốc tịch: Là điều kiện tiên quyết. Đối với người mang hai hay nhiều quốc tịch, áp dụng nguyên tắc bình đẳng (Điều 4 Công ước La Hay 1930: không thể bảo hộ chống lại quốc gia mà người đó cũng mang quốc tịch và đang cư trú) hoặc nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu tại nước thứ ba (Điều 5 Công ước La Hay 1930).
    • Điều kiện quốc tịch liên tục: Người được bảo hộ phải mang quốc tịch nước bảo hộ từ thời điểm bị xâm hại cho đến khi kết thúc quá trình bảo hộ (án lệ Tòa án Công lý quốc tế PCIJ trong vụ Đường sắt Panevezys-Saldutikis).
    • Bảo hộ người không mang quốc tịch: Thực hiện theo điều ước song phương/đa phương (Điều 8 Công ước Viên 1963; Hướng dẫn trợ giúp lãnh sự ASEAN 2018; cơ chế của EU).
    • Có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế và sử dụng hết các biện pháp khắc phục nội tại (exhaustion of local remedies) tại nước sở tại trước khi yêu cầu bảo hộ ngoại giao chính thức.

Chương 3: Thực trạng bảo hộ công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động

Chương 3 tổng hợp và đánh giá dữ liệu thực tiễn công tác phái cử và bảo hộ lao động:

Chỉ số / Dữ liệu thực tiễn Giai đoạn / Mốc thời gian Số liệu ghi nhận
Tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2010 – 2017 821.862 người (Nam: 527.930 / 64,2%; Nữ: 293.932 / 35,8%)
Tỷ lệ lao động nữ xuất khẩu Năm 2017 Đạt 39,58%
Tổng lượt lao động phái cử đi nước ngoài 2007 – 2019 Trên 1,3 triệu lượt (bình quân ~110.000 người/năm, chiếm 7% việc làm mới)
Quy mô cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Năm 2018 Hơn 4,5 triệu kiều bào tại 109 quốc gia và vùng lãnh thổ
Lượng xuất cảnh hàng năm của công dân Việt Nam Năm 2018 Khoảng 7 triệu lượt xuất cảnh
Lượng kiều hối gửi về nước (theo World Bank) Năm 2016
Năm 2020
11,9 tỉ USD (>6% GDP)
15,686 tỉ USD (5,8% GDP, Top 10 thế giới)
Số lượt công dân được cơ quan đại diện bảo hộ Năm 2017
Năm 2018
8.024 trường hợp (+26% so với 2016)
10.378 trường hợp (+22% so với 2017)
Quy mô mạng lưới cơ quan đại diện ngoại giao/lãnh sự Đến thời điểm nghiên cứu 96 cơ quan đại diện / hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ

Chương này chỉ ra các bất cập lớn:

  1. Bất cập về mạng lưới và nhân sự: 96 cơ quan đại diện phải phụ trách hơn 200 quốc gia/vùng lãnh thổ; nhiều cơ quan phải kiêm nhiệm nhiều nước; biên chế chỉ 5–7 cán bộ phụ trách đa nhiệm nhiều lĩnh vực ngoại giao, chính trị, kinh tế, báo chí, thương mại dẫn đến quá tải khi xử lý các vụ việc bảo hộ ở địa bàn xa.
  2. Bất cập về nguồn lực tài chính: Quỹ Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài vận hành theo cơ chế tạm ứng, đòi hỏi công dân hoàn trả, mức chi hỗ trợ không hoàn lại hạn chế nên khó giải quyết nhanh chóng các chi phí y tế, pháp lý, lưu trú khẩn cấp hoặc hậu sự.
  3. Vấn đề lao động cư trú bất hợp pháp: Tình trạng lao động phá vỡ hợp đồng, trốn ra ngoài làm việc phi chính thức khiến cơ quan đại diện không quản lý được thông tin, gây khó khăn cho việc triển khai can thiệp pháp lý khi xảy ra rủi ro.

Chương 4: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động

Chương 4 đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp:

  • Quan điểm chỉ đạo: Quán triệt đường lối của Đảng và tinh thần Hiến pháp 2013 về tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; coi công tác bảo hộ người lao động di cư là nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm; kết hợp giữa trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước với việc nâng cao ý thức tự bảo vệ của người lao động.
  • Hệ thống giải pháp:
    1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Sửa đổi, bổ sung Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; ký kết thêm các hiệp định hợp tác lao động và tư pháp song phương.
    2. Nâng cao năng lực bộ máy và cơ chế phối hợp: Bổ sung cán bộ chuyên trách lãnh sự, lao động tại các địa bàn trọng điểm; thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành nhịp nhàng giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan đại diện ở nước ngoài và doanh nghiệp dịch vụ.
    3. Đổi mới cơ chế tài chính: Mở rộng phạm vi và định mức hỗ trợ không hoàn lại của Quỹ Bảo hộ công dân cho các tình huống khẩn cấp, khủng hoảng; đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán kinh phí bảo hộ.
    4. Tăng cường năng lực tự bảo vệ của người lao động (theo HRBA): Đổi mới công tác đào tạo, giáo dục định hướng trước khi xuất cảnh về ngoại ngữ, pháp luật nước sở tại, kỹ năng ứng phó sự cố; tăng cường phổ biến kênh liên lạc khẩn cấp (Tổng đài bảo hộ công dân, Cổng thông tin điện tử lãnh sự).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng hệ thống khái niệm, phân tích rõ nội hàm, đặc điểm, phân loại các hình thức phái cử và xác lập các điều kiện pháp lý để tiến hành bảo hộ công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ.
  • Ứng dụng thành công liên hoàn 3 lý thuyết nền tảng (Lý thuyết chủ quyền nhân dân, Lý thuyết quản trị nhà nước hiện đại và Lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền) để luận giải bản chất trách nhiệm của Nhà nước và vai trò chủ động của công dân trong công tác bảo hộ.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh, có hệ thống dữ liệu định lượng từ năm 1992 đến năm 2021 về quy mô di chuyển lao động, các rủi ro pháp lý - xã hội của lao động Việt Nam ở nước ngoài và kết quả xử lý bảo hộ của các cơ quan chức năng.
  • Nhận diện chính xác các "điểm nghẽn" thực tế: sự quá tải về nhân lực của 96 cơ quan đại diện ngoại giao, cơ chế tài chính tạm ứng - hoàn trả của Quỹ BHCD, hạn chế trong liên lạc và quản lý nhóm lao động cư trú bất hợp pháp.
  • Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế vận hành Quỹ BHCD, tăng cường đàm phán hiệp định song phương và nâng cao chất lượng giáo dục định hướng cho người lao động.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu trong khuôn khổ công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động, chưa đi sâu vào toàn diện các đối tượng di cư lao động phi chính thức (xuất cảnh trái phép, lao động không hợp đồng) và chuyên gia làm việc độc lập không thuộc diện điều ước quốc tế điều chỉnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu cơ chế bảo hộ pháp lý và nhân đạo đối với nhóm lao động di cư không chính thức, nạn nhân của nạn mua bán người xuyên quốc gia.
    • Nghiên cứu sâu hơn về quy trình ứng phó khủng hoảng y tế công cộng, thiên tai diện rộng và xung đột quân sự tác động đến cộng đồng lao động Việt Nam tại các khu vực chiến sự.
    • Hoàn thiện mô hình tài chính bền vững và cơ chế bảo hiểm rủi ro bắt buộc kết hợp hỗ trợ pháp lý quốc tế cho người lao động di cư.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để sửa đổi, hoàn thiện Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Cơ quan quản lý và thực thi: Hữu ích cho Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự, Quỹ BHCD), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Cục Quản lý lao động ngoài nước) và các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài trong việc chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin bảo hộ công dân.
  • Doanh nghiệp dịch vụ phái cử lao động: Giúp nắm vững cơ sở pháp lý, quyền và nghĩa vụ theo điều ước quốc tế để phối hợp xử lý tranh chấp và bảo đảm quyền lợi người lao động.
  • Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu tham khảo trong giảng dạy các học phần Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Quốc tế, Luật Lao động và Ngoại giao lãnh sự tại các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Bảo hộ công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo ĐƯQTVHTLĐ được hiểu như thế nào?

Là việc Nhà nước sử dụng các biện pháp can thiệp hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và pháp luật nước sở tại nhằm bảo vệ các quyền, tự do cơ bản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam đi làm việc theo các thỏa thuận hợp tác lao động; đồng thời cung cấp sự trợ giúp toàn diện khi họ gặp khó khăn, rủi ro, hoạn nạn ở nước ngoài mà bản thân không thể tự khắc phục.

2. Có những hình thức đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc nào theo ĐƯQTVHTLĐ?

Có 4 hình thức chính:

  1. Thông qua doanh nghiệp dịch vụ (chiếm khoảng 80% tổng số lao động hàng năm).
  2. Theo hợp đồng trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp.
  3. Thông qua các tổ chức sự nghiệp công lập (phái cử chuyên gia y tế, giáo dục, nông nghiệp...).
  4. Theo hợp đồng lao động cá nhân do người lao động trực tiếp ký kết và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương.

3. Điều kiện quốc tịch được áp dụng như thế nào trong hoạt động bảo hộ công dân ở nước ngoài?

Quốc tịch là điều kiện tiên quyết. Đối với công dân có hai hoặc nhiều quốc tịch, nếu họ đang cư trú tại một nước mà họ mang quốc tịch thì quốc gia còn lại không được thực hiện bảo hộ ngoại giao chống lại nước đó (Điều 4 Công ước La Hay 1930). Nếu công dân cư trú tại nước thứ ba, quyền bảo hộ thuộc về quốc gia mà người đó có "quốc tịch hữu hiệu" - nơi có mối liên hệ thực tế, chặt chẽ nhất về nơi thường trú, gia đình, nghĩa vụ công dân (Điều 5 Công ước La Hay 1930). Ngoài ra, người được bảo hộ phải duy trì quốc tịch liên tục từ khi xảy ra vụ việc đến khi kết thúc bảo hộ.

4. Những khó khăn lớn nhất đối với các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong công tác bảo hộ lao động là gì?

Khó khăn lớn nhất bao gồm: mạng lưới cơ quan đại diện còn hạn chế (96 cơ quan đại diện phụ trách hơn 200 quốc gia/vùng lãnh thổ); mỗi cơ quan chỉ có 5–7 cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều mảng công tác khác nhau; địa bàn phụ trách trải rộng hàng ngàn kilomet; nguồn lực tài chính từ Quỹ Bảo hộ công dân hoạt động theo nguyên tắc tạm ứng - hoàn trả nên hạn chế nguồn chi không hoàn lại cho các trường hợp đặc biệt; cùng với tình trạng lao động bỏ trốn ra ngoài cư trú bất hợp pháp gây đứt gãy thông tin quản lý.

5. Ba lý thuyết nền tảng được tác giả sử dụng để giải quyết vấn đề nghiên cứu là gì?

Luận án sử dụng: (1) Lý thuyết chủ quyền nhân dân (xác định quyền lực thuộc về nhân dân, Nhà nước có nghĩa vụ hiến định bảo vệ công dân); (2) Lý thuyết quản trị nhà nước hiện đại (tiếp cận bảo hộ công dân như một dịch vụ công của nhà nước với trách nhiệm giải trình); (3) Lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền - HRBA (lấy người lao động làm trung tâm, vừa bảo đảm nghĩa vụ của Nhà nước vừa nâng cao năng lực tự bảo vệ của công dân).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hương Lan là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về cơ chế bảo hộ pháp lý đối với công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa 3 khung lý thuyết nền tảng với phương pháp tiếp cận liên ngành luật học, tác giả đã phân tích toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành giai đoạn 1992–2021. Các phát hiện về rào cản mạng lưới đại diện ngoại giao, cơ chế tài chính của Quỹ Bảo hộ công dân và các nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và đóng góp thiết thực cho công tác quản lý di cư lao động của Việt Nam.