đặt vấn đề lao động di trú có tầm quan trọng lớn trong chính sách kinh tế và chính sách ngoại giao. Tại diễn đàn ASEAN năm 2008, Việt Nam đã khuyến nghị, với tư cách là một cộng đồng cùng trách nhiệm và chia sẻ, cần hành động một cách cụ thể và trọn vẹn để người dân các nước thành viên mà muốn tìm việc làm ở nước ngoài có thể được hưởng lợi từ một thỏa thuận mới của khu vực mà qua đó các quyền của họ với tư cách là những người lao động di trú sẽ được bảo vệ. Thực tế, Việt Nam đã gửi khoảng nửa triệu người lao động đi làm việc ở khoảng 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, nên đòi hỏi có cơ chế pháp lý quốc tế để bảo vệ. Sự đòi hỏi này được hiểu ở chiều ngược lại là Việt Nam suy tính tới quan hệ quốc tế và cam kết thi hành các cơ chế bảo vệ quyền của những người lao động di trú.
Đây là đặc điểm quan trọng không chỉ liên quan tới thiết kế chính sách, thiết lập cơ chế quản lý, xây dựng pháp luật về quản lý lao động nước ngoài, mà còn liên quan tới các tác nghiệp quản lý cụ thể.3] Thứ hai, quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là một quá trình liên quan tới nhiều ngành, tất cả các địa phương và nhiều quan hệ lao động. Để bảo đảm cho một người lao động nước ngoài vào làm việc tại một nước, có nhiều vấn đề quản lý sau phải được đặt ra như: Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, cấp phép lao động, điều kiện lao động và sử dụng lao động, việc làm, giáo dục, y tế, công đoàn, bảo hiểm xã hội, an ninh, trật tự… Người lao động nước ngoài có thể làm việc, cư trú, đi lại nghỉ ngơi ở tất cả các địa phương và họ có thể tham dự vào nhiều quan hệ lao động khác nhau không kể lao động giản đơn hay lao động đòi hỏi trình độ cao…Vì vậy, chủ thể quản lý lao động nước ngoài làm việc tại nước sở tại bao gồm nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước và tất cả các chính quyền địa phương, nhiều tổ chức cung cấp hàng hóa công cộng khác như các tổ chức chính trị - xã hội. Các phương 13 Luan van thức quản lý cũng khác nhau tùy theo chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức.2-3] Thứ ba, quản lý LĐNN tại Việt Nam là một quá trình thực hiện liên quan tới nhiều yếu tố thực thi pháp luật. Lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam luôn biến động, xuất nhập cảnh liên tục, tạm trú tại nhiều nơi khác nhau; đối tượng LĐNN tham gia thuộc nhiều thành phần, khác nhau về tính chất công việc, môi trường làm việc, loại hình lao động, trình độ năng lực, kỹ năng nghề nghiệp.
nên khó kiểm soát, nhất là đối với những dự án lớn, nhiều gói thầu, nhiều nhà thầu và triển khai tại nhiều địa điểm. Các tổ chức, doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp nước ngoài) và người lao động nước ngoài phải tuân theo những điều kiện rất nghiêm ngặt và các thủ tục chặt chẽ. Trách nhiệm của các ngành như Công an, Tư pháp, Công thương, Lao động – Thương binh và Xã hội. cũng được quy định rất rõ ràng.
Thứ tư, quản lý LĐNN tại Việt Nam là một quá trình giải quyết các quyền lợi hài hòa, đảm bảo các lợi ích hợp pháp giữa doanh nghiệp, nhà thầu, tổ chức kinh tế,… có người nước ngoài và LĐNN cùng với nhà chức trách của nước sở tại trên cơ sở đảm bảo về an toàn lao động, an ninh chính trị, trật tự xã hội, điều kiện sinh hoạt và môi trường sống, kể cả chính sách an sinh xã hội đang thực thi tại những vùng được thụ hưởng. Thứ năm, quản lý LĐNN tại Việt Nam còn là một quá trình ứng phó, tiếp kiến và tiếp giao văn hóa, có ảnh hưởng và tác động làm thay đổi một số quan niệm về đời sống văn hóa tinh thần, vui chơi giải trí và cải thiện kinh tế của một bộ phận dân cư nơi có lao động nước ngoài sinh sống và làm việc. Mối quan hệ tương tác này có những điều mà pháp luật nước sở tại cần điều chỉnh để phù hợp trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu của LĐNN tại Việt Nam theo quy định của pháp luật. Mục tiêu quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Thực hiện chức năng Nhà nước trong xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ tổ quốc đối với tiến trình hội nhập toàn cầu hóa.
Đảm bảo thực hiện các quy tắc xử sự theo thông lệ ngoại giao, hợp tác cùng phát triển về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và các lĩnh vực đời sống xã hội khác. khi Nhà nước Việt Nam tham gia cam kết, phê chuẩn trên cơ sở pháp luật Việt Nam. Phải đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài một cách hợp lý. Phát triển kinh tế có thể dẫn tới sự thiếu hụt lao động trong một số lĩnh vực có thể do sự mở rộng sản xuất, kinh doanh đòi hỏi thêm lao động, do sự thu hút lao động vào một số lĩnh vực nhất định mà bỏ trống những lĩnh vực khác, hoặc do lực lượng lao động chưa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất, kinh doanh.
Chẳng hạn Việt Nam vào thời kỳ đầu đổi mới với mong muốn thu hút vốn đầu tư nước ngoài và thu hút công nghệ tiến tiến của nước ngoài, nhưng lực lượng lao động trong các lĩnh vực công nghệ cao rất mỏng, nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài phát sinh trong khi đó lại tìm cách đưa nhiều lao động chưa có trình độ cao ra nước ngoài làm việc. Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy, cho đến tháng 8/2014 có khoảng 1,7 triệu người nước ngoài lao động tại Hàn Quốc [43]. Rõ ràng, nền kinh tế nước này có nhu cầu cần thêm sức lao động trong những ngành nghề nhất định. Từ đó, phát sinh đòi hỏi quản lý lao động nước ngoài như thế nào để bảo đảm cung cấp sức lao động hợp lý cho nhu cầu sử dụng lao động để phát triển kinh tế.
Với mục tiêu này các chính sách và pháp luật cụ thể liên quan được xây dựng. Gắn việc sử dụng lao động nước ngoài của từng người sử dụng lao động với lợi ích chung của toàn xã hội. Khi người lao động nước ngoài vào làm việc tại nước sở tại không đơn giản là họ chỉ có mối quan hệ hợp đồng với người sử dụng lao động cụ thể mà họ và gia đình của họ sinh sống tại nước sở tại. Có nhiều mối quan hệ khác phát sinh từ đó có liên quan tới lợi ích của 15 Luan van toàn xã hội.
Tuy nhiên mục tiêu chủ yếu của họ là việc làm tại một nơi cụ thể của một người sử dụng lao động cụ thể. Do đó việc gắn kết giữa việc sử dụng lao động nước ngoài của từng người sử dụng lao động với lợi ích chung của toàn xã hội là một mục tiêu phải được đặt ra cho hoạt động quản lý lao động nước ngoài. Mục tiêu này góp phần thiết kế các chính sách và ban hành các quy tắc pháp luật phù hợp, đồng thời bảo đảm cho sự thi hành các chính sách và pháp luật liên quan bởi hơn ai hết người sử dụng lao động gần gũi nhất với người lao động nước ngoài. Pháp luật về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 1.
Khái niệm pháp luật về quản lý lao động nước ngoài làm vệc tại Việt Nam Quản lý lao động nước ngoài tại quốc gia sở tại là một phức hợp các mối quan hệ qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý bởi xuất phát từ không chỉ nhu cầu của chủ thể quản lý, mà còn từ các nguyên tắc mà chủ thể quản lý dù không muốn cũng phải tuân thủ vì tính chất của đối tượng quản lý là những con người có các quyền tự nhiên mà với các quyền đó chủ thể quản lý không thể vượt qua (quyền con người). Có thể định nghĩa như sau: Pháp luật quản lý lao động nước ngoài là tổng thể các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc Nhà nước tác động vào đối tượng quản lý là những người nước ngoài nhập cư vào nước sở tại để làm ăn, sinh sống nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài một cách hợp lý và gắn việc sử dụng lao động nước ngoài của từng người sử dụng lao động với lợi ích chung của toàn xã hội. Phân tích các nội dung chủ yếu của mô hình quản lý lao động nước ngoài nêu trên có thể thấy các quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các tư nhân là người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động nước 16 Luan van ngoài. Trong hoạt động quản lý còn cho thấy sự tác động có tính chất định hướng và hỗ trợ cho mối quan hệ hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài.
Vì vậy các quy tắc pháp luật quản lý lao động nước ngoài có cả các quy tắc của luật công và các quy tắc của luật tư. Là một lĩnh vực pháp luật phức hợp như vậy bởi đối tượng điều chỉnh có nhiều đặc điểm khác biệt, nên phương pháp điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật này là tổng thể các phương pháp điều chỉnh của cả luật công và luật tư. Điều đó có nghĩa là: đối với các mối quan hệ tư, phương pháp điều chỉnh chủ yếu là phương pháp tự do thỏa thuận và tự định đoạt; còn đối với các mối quan hệ công, phương pháp điều chỉnh chủ yếu là phương pháp mệnh lệnh - phục tùng. Tuy nhiên các quan hệ tư trong lĩnh vực này không thuần túy được điều chỉnh bởi phương pháp tự do thỏa thuận và tự định đoạt mà lý do chủ yếu là pháp luật dành sự ưu tiên hơn cho việc kiểm soát lao động nước ngoài.
Chẳng hạn đối với lao động trong nước, người sử dụng lao động có tự do hơn trong việc giao kết hợp đồng lao động với người lao động; thế nhưng đối với lao động nước ngoài, người sử dụng lao động bị hạn chế trong việc lựa chọn người lao động để giao kết hợp đồng lao động. Bản thân người nước ngoài không có phép lao động khó có thể có được hợp đồng lao động đàng hoàng.