CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE QUAN LY LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI VA SU DIEU CHINH CUA PHAP LUAT 1. Những van dé chung về quản lý lao động nước ngoài 1.1, Khái niệm lao động nước ngoài Sự mở cửa của nền kinh tế thế giới đã hình thành nên thị trường lao động quốc tế, đó là sự dịch chuyền lao động giữa các quốc gia. Mỗi quốc gia có thể đưa lao động nước mình ra nước ngoài làm việc đồng thời chấp nhận lao động nước ngoài vào làm việc tại nước mình. Pháp luật của nhiều quốc gia và các Điều ước quốc tế sử dụng thuật ngữ “Jao động di trú” hoặc “lao động di cư” (migrant workers) đề chỉ nhóm lao động này, khác với hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam không sử dụng hai khái niệm trên.
Hiện tại, Công ước ICRMW 1990 của Liên hiệp quốc và Công ước 97!, Công ước 143? của ILO là ba công ước quốc tế quan trọng nhất về người lao động di trú. Theo quan niệm cua ILO thì: “Lao động di tru là khái niệm chi một người di trú từ một nước này sang một nước khác dé làm việc vì lợi ích của chính mình và bao gâm bắt kỳ người nào đã được thường xuyên thừa nhận là lao động di trú ” (Điều 11 Công ước 97 và Điều 11 Công ước 143). Khái niệm này không bao hàm: (a) Những lao động qua lại ở các vùng biên giới; (b) Những nghệ sĩ và người có chuyên môn hành nghề tự do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn; và (c) Các thủy thủ. Dấu hiệu nhận biết lao động di trú ở đây dựa trên những khác biệt về lãnh thổ, biên giới quốc gia, là việc di chuyển của người lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Sự di chuyển này của người lao động từ nước mà người đó mang quôc tịch sang nước khác mà người đó không mang quôc tịch. ! Công ước này được thông qua tại kỳ hop thứ 30 ngày 8/6/1949 của Hội nghị toàn thé của ILO và có hiệu lực từ 20/01/1952. Tính đến hết tháng 3/2008, Công ước có 47 nước là thành viên. Việt Nam chưa tham gia Công ước này ? Mục tiêu của Công ước số 143 là b6 sung cho Công ước số 97 năm 1949 và Công ước về Phân biệt đối xử (Việc làm và nghề nghiệp) năm 1958 của ILO.
Công ước này được thông qua tại kỳ họp thứ 60 ngày 4/6/1975 của Hội nghị toàn thể của IIO và có hiệu lực từ 9/12/1978. Khái niệm lao động di trú của ILO chỉ sử dụng cho #?gười lao động “đã được thường xuyên thừa nhận là lao động di trú ” tức là những người lao động di cư hợp pháp, được sự chấp nhận của nước đến. Trong khi đó Công ước ICRMW 1990 xác định khái niệm người di trú rộng hơn va bảo vệ cả quyền của người lao động di trú và thành viên của gia đình họ. Khoản 1 Điều 2 Công ước ICRMW 1990 quy định: “Thudt ngữ “lao động di trú” dé chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dan”.
Theo Công ước ICRMW 1990, lao động di trú bao gồm cả “lao động di trú có giấy tờ” (documented migrant worker) và “lao động di trú không có giấy tờ” (undocumented migrant worker) và cả gia đình họ. Điều 4 của Công ước ICRMW 1990 quy định: “Thanh viên gia đình cua người lao động di /rú ” là những người kết hôn với những người lao động di trú hoặc có quan hệ tương tự như quan hệ hôn nhân, theo pháp luật hiện hành, cũng như con cái và những người sống phụ thuộc khác được công nhận là thành viên của gia đình theo pháp luật hiện hành và theo hiện định song phương và đa phương giữa các quôc gia liên quan”. - “Lao động di trú có giấy tờ” là lao động di trủ hợp pháp. Họ được phép vào, ở lại và tham gia làm một công việc được trả lương tại một quốc gia nơi có việc làm theo pháp luật quốc gia đó và theo những hiệp định quốc tế mà quốc gia đó là thành viên.
- “Lao động di trú không có giấy tờ” còn được gọi là lao động di trú không hợp pháp (irregular migrant worker) là những người lao động làm việc ở nước khác mà không có các điều kiện trên (giấy phép lao động hay giấy phép cư trú). Để làm rõ hơn khái niệm “ngurdi lao động di trí”, Điều 2 Công ước nêu rõ những đối tượng được coi là lao động di trú theo định nghĩa của Công ước, bao gồm 8 dạng: 1. “Nhán công vùng biên” - chỉ những lao động di trú thường trú tại một nước láng giéng noi họ thường trở về hàng ngày hoặc ít nhất mỗi tuần một lân; 2. “Nhân công theo mia” - chỉ những lao động di trú làm những công việc có tính chât mùa vụ và chỉ làm một thời gian nhât định trong năm; 3.
“Người di biển” - chỉ những lao động di trú được tuyên dụng làm việc trên một chiếc tàu đăng ký tại một quốc gia mà họ không phải là công dân, bao gôm cả ngư dân; 4. “Nhân công làm việc tại một công trình trên biển" - chỉ những lao động di trú được tuyển dụng làm việc trên một công trình trên biển thuộc quyền tài phán của một quốc gia mà họ không phải là công dân; 5. “Nhân công lưu động” - chỉ những lao động di trú sống thường trú ở một nước phải đi đến một hoặc nhiều nước khác nhau trong các khoảng thời gian do tính chât công việc của người đó; 6. “Nhân công theo dự án” - chỉ những lao động di trú được nhận vào quốc gia nơi có việc làm trong một thời gian nhất định để chuyên làm việc cho một dự án cụ thê đang được người sử dụng lao động của mình thực hiện tại quôc gia đó; 7.
“Nhan công lao động chuyên dung” - chỉ những lao động di trú mà được người sử dụng lao động của mình cử đến quốc gia nơi có việc làm trong một khoảng thời gian hạn chế nhất định để đảm nhiệm một công việc hoặc nhiệm vụ cụ thê mang tính chuyên môn kỹ thuật ở quôc gia nơi có việc làm; 8. “Nhân công tu chu” - chỉ những lao động di trú tham gia làm một công việc có hưởng lương nhưng không phải dưới dạng hợp đồng lao động mà thường là bằng cách làm việc độc lập hoặc cùng với các thành viên gia đình của mình, hoặc dưới các hình thức khác mà được coi là nhân công tự chủ theo pháp luật của quốc gia nơi có việc làm hoặc theo các hiệp định song phương và đa phương. Thêm vào đó, nhằm làm rõ hơn khái niệm người lao động di trú, Điều 3 Công ước liệt kê những đối tượng không được coi là lao động di trú (dựa trên tiêu chí nghề nghiệp), bao gồm 6 dạng chính như sau: 1. Những người được cử hoặc tuyên dụng bởi các cơ quan va tô chức quôc tê, hoặc bởi một nước sang một nước khác đê thực hiện các chức năng chính thức; Khuôn khổ pháp lý quốc tế.
Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước hoặc người thay mặt cho nước đó ở nước ngoài tham gia các chương trình phát triển và các chương trình hợp tác khác; 3. Những người sống thường trú ở một nước không phải quốc gia xuất xứ đê làm việc như những nhà đâu tư; 4. Những người ti nạn va không có quôc tịch; 5. Sinh viên và học viên; 6.
Những người đi biên hay người làm việc trên các công trình trên biên không được nhận vào đê cư trú và tham gia vào một công việc có hưởng lương ở quôc gia nơi có việc làm. Singapore là một nước có tốc độ tăng trưởng GDP cao so với tốc độ tăng dân số vì vậy Singapore không đủ nguồn nhân lực dé đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh của đất nước. Ngoài ra các nguyên nhân khác như sự già hóa dân số, tỷ lệ sinh thấp, xu hướng di cư ra nước ngoài v.khiến chính phủ Singapore bắt buộc phải khuyến khích người nước ngoài nhập cư vào Singapore và thực hiện các chính sách nhập cư lao động nước ngoài để phục vụ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là lao động chuyên môn cao. Trong những năm gần đây, để đạt được mục tiêu tăng trưởng dài hạn thì Singapore lại thắt chặt chính sách nhập cư, giảm bớt nguồn lao động nước ngoài.
Singapore đã áp dụng các đạo luật khác nhau để quản lý và điều tiết lao động nước ngoai vào Singapore trong đó có Luật sử dụng lao động nước ngoài 10 (Employment of Foreign Manpower Act 1990, revised edition 2009). Theo luật này, các thuật ngữ được giải thích như sau: - “Người lao động nước ngoài” là người nước ngoài, trừ lao động tự do, tìm kiếm hoặc được mời làm việc tại Singapore hoặc một người hay nhóm người khác mà Bộ trưởng có thể quy định bằng việc công bồ trên công báo. Trong đó “Người nước ngoài” có nghĩa là người không phải công dân hoặc người thường trú của Singapore. - “Người nước ngoài lao động tu do” có nghĩa là người nước ngoài không được thuê làm việc theo một hợp đồng dịch vụ, tham gia hoạt động thương mại, nghề nghiệp hoặc chuyên môn hoặc hoạt động khác ở Singapore vì mục đích lợi nhuận.
Như vậy người lao động nước ngoài được xác định không phải là công dân Singapore hoặc người thường trú và họ cũng được phân định theo hai loại là lao động nước ngoài tự do và lao động nước ngoài theo hình thức khác. Ngày 6/8/2003, Hàn Quốc ban hành đạo luật về sử dụng lao động nước ngoài số 6967 (Act on Foreign Workers Employment etc. Ngày 15/8/2003, Quốc hội Hàn Quốc thông qua Luật cấp phép cho Người lao động nước ngoài (Foreign Employment Permit Law), có hiệu lực từ 1/8/2004. Đạo luật số 6967 quy định về việc sử dụng lao động nước ngoài với mục đích đảm bảo quan hệ cung cầu về lao động thông qua việc giới thiệu và quản lý lao động nước ngoài một cách có hệ thống, trật tự.
Đối tượng điều chỉnh của Luật này: “Người lao động nước ngoài là người không có quốc tịch Hàn Quốc” làm việc cho các doanh nghiệp hoặc cơ sở sử dụng lao động tại Hàn Quốc (Luật này cũng không áp dụng đối với lao động thuyền viên). Theo các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam, đối tượng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã được đề cập, tuy nhiên chưa có sự thống nhất khi nói về khái niệm “ngurdi lao động nước ngoài”.