Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng tiếp nhận văn học cổ điển nước ngoài trong trường phổ thông hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, thể hiện rõ nét qua các số liệu khảo sát học đường. Theo điều tra thực tế tại các trường trung học phổ thông, có tới 41,1% học sinh không có hứng thú với các tiết học thơ Đường, trong khi 83,5% giáo viên e ngại lựa chọn nội dung này cho các tiết thao giảng chuyên môn. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ mâu thuẫn giữa giá trị nghệ thuật nhân loại mẫu mực của Đường thi với tâm lý thờ ơ, thụ động của học sinh lớp 10 trước rào cản ngôn ngữ và khoảng cách thời gian hơn 1.000 năm lịch sử.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tâm lý hứng thú học tập, đánh giá toàn diện thực trạng dạy học thơ Đường tại trường trung học phổ thông, từ đó đề xuất và thực nghiệm hệ thống biện pháp sư phạm tích cực nhằm khơi dậy niềm say mê, nâng cao năng lực cảm thụ văn học cổ điển cho học sinh. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tập trung vào chương trình Ngữ văn 10 chuẩn với 5 tác phẩm thơ Đường tiêu biểu, thực hiện khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội tại 3 trường trung học phổ thông gồm Hoàng Văn Thụ, Đông Kinh và Cao Bá Quát, kết hợp thực nghiệm trực tiếp tại lớp 10A4 trường Trung học phổ thông Hoàng Văn Thụ trong năm học 2011 - 2012.

Ý nghĩa của đề tài được khẳng định thông qua việc hiện thực hóa tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nghiên cứu không chỉ giúp học sinh lớp 10 tiếp cận trọn vẹn tinh hoa văn hóa nhân loại mà còn nâng cao rõ rệt các chỉ số kết quả học tập, đưa tỷ lệ học sinh hứng thú học tập sau can thiệp đạt trên 80%, đồng thời tạo tiền đề phương pháp luận vững chắc để học sinh tiếp nhận các tác phẩm thơ Đường luật của văn học trung đại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa lý thuyết tâm lý học giáo dục và lý thuyết thi pháp học văn học trung đại. Trọng tâm là lý thuyết về hứng thú của nhà tâm lý học A. G. Cô-va-li-nôp, xác định hứng thú học tập là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng nhận thức, kết hợp nhuần nhuyễn giữa quá trình nhận thức lý trí và rung cảm tình cảm sâu sắc. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa quan điểm giáo dục phát triển của V. Dan-cốp và Sin-xki, khẳng định sự phát triển trí tuệ không thể đạt được bằng kỷ luật cưỡng bức mà phải thông qua việc kích thích động cơ nội tại và lòng ham muốn hiểu biết tự thân của học sinh.

Về phương diện văn học, khung lý thuyết thi pháp thơ Đường làm sáng tỏ các đặc trưng cốt lõi của một di sản đồ sộ với hơn 48.000 bài thơ của 2.300 tác giả. Bốn khái niệm chính được định hình xuyên suốt gồm: quan niệm nghệ thuật về con người (sự đan xen giữa con người vũ trụ hào sảng và con người xã hội đầy trăn trở nhân sinh); không gian nghệ thuật (sự tương phản giữa không gian vũ trụ vô biên và không gian đời thường bi ai); thời gian nghệ thuật (thời gian hoài cổ, dòng ký ức hòa quyện thời gian hiện tại); và đặc trưng thể loại cách luật chặt chẽ. Hệ thống thi luật nghiêm ngặt với 6 quy tắc bắt buộc gồm niêm, luật, vận, đối, tiết tấu và bố cục được phân tích cụ thể qua cấu trúc 56 chữ của thể thất ngôn bát cú và 20 chữ của thể ngũ ngôn tứ tuyệt, tạo cơ sở khoa học để thiết kế các hoạt động sư phạm phù hợp.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học, nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng từ khảo sát thực tế 200 khách thể, bao gồm 15 giáo viên giảng dạy Ngữ văn và 185 học sinh lớp 10. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, đại diện cho cả hai khối trường công lập (Trung học phổ thông Hoàng Văn Thụ, Trung học phổ thông Cao Bá Quát) và ngoài công lập (Trung học phổ thông Đông Kinh), bao quát đầy đủ các nhóm đối tượng học sinh có học lực giỏi, khá, trung bình và yếu.

Phương pháp phân tích kết hợp chặt chẽ giữa định lượng và định tính. Về định lượng, tác giả sử dụng các công cụ thống kê mô tả, phân tích tần số và tỷ lệ phần trăm từ các phiếu hỏi trắc nghiệm, bài kiểm tra nhận thức 15 phút và 45 phút. Về định tính, nghiên cứu áp dụng phương pháp quan sát sư phạm thông qua phiếu nhật ký quan sát giờ dạy, phỏng vấn sâu giáo viên bộ môn và tổ chức thảo luận chuyên đề tại tổ chuyên môn Ngữ văn. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích hỗn hợp này là nhằm đối chiếu chính xác mối tương quan giữa sự thay đổi trong phương pháp giảng dạy của giáo viên với mức độ chuyển biến tâm lý, nhận thức và kết quả học tập của học sinh. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong năm học 2011 - 2012, chia thành các giai đoạn: khảo sát thực trạng đầu năm, xây dựng đề xuất giải pháp, tổ chức thực nghiệm sư phạm đối chứng tại lớp 10A4 và tổng kết, xử lý dữ liệu cuối kỳ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu khảo sát 185 học sinh lớp 10 trước khi áp dụng biện pháp mới đã chỉ ra 3 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mức độ hứng thú của học sinh đối với phần thơ Đường ở mức rất thấp. Chỉ có 11,3% học sinh (21 em) cảm thấy rất hứng thú với bài học; 39,5% học sinh (73 em) hứng thú vừa phải; trong khi có tới 41,1% học sinh (76 em) hoàn toàn không có hứng thú và 8,1% (15 em) không đưa ra ý kiến. Điều này cho thấy đa số học sinh bước vào giờ học Đường thi với tâm thế thụ động, xem đây là môn học khô khan, xa lạ.

Thứ hai, học sinh gặp rào cản nghiêm trọng về tri thức thể loại và ngôn ngữ cổ. Khi thực hiện bài tập nhận diện thể loại với 5 tác phẩm kết hợp giữa thơ Đường nguyên bản và thơ Đường luật Việt Nam, có tới 51,9% học sinh (96 em) trả lời sai. Khoảng cách ngôn ngữ Hán Việt cùng các hệ thống điển tích phức tạp khiến học sinh không thể tự giải mã văn bản nếu chỉ dựa vào phương pháp đọc thụ động thông thường.

Thứ ba, từ phía giáo viên, phương pháp giảng dạy còn nặng tính thuyết trình một chiều hoặc diễn nôm cơ học. Có 83,5% giáo viên được hỏi cho biết không chọn bài thơ Đường để dạy thao giảng vì e ngại độ khó của văn bản. Đồng thời, 70,5% giáo viên nhận định khung thời lượng 45 phút cho 1 bài thơ chính khóa và 1 tiết dành cho 3 bài đọc thêm là quá ngắn, khiến họ khó có thể tổ chức các hoạt động phát huy tính tích cực của người học.

Sau khi tiến hành dạy thực nghiệm bài "Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng" của Lý Bạch tại lớp thực nghiệm 10A4 (42 học sinh) so sánh với lớp đối chứng (43 học sinh), kết quả có sự chuyển biến vượt bậc: tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi trong bài kiểm tra nhận thức ở lớp thực nghiệm đạt 78,5% (lớp đối chứng chỉ đạt 45,2%), và tỷ lệ học sinh hào hứng, tích cực tham gia phát biểu xây dựng bài tăng lên 82,4%.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch rõ rệt giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng bắt nguồn từ việc giải tỏa được các ức chế nhận thức và kích hoạt được cảm xúc thẩm mĩ của học sinh. Nguyên nhân của sự thờ ơ trước đây không phải do bản thân thơ Đường thiếu giá trị, mà do phương pháp giảng dạy truyền thống chưa tạo ra được cầu nối trực quan giúp học sinh 16 tuổi vượt qua khoảng cách thời gian và ngôn ngữ. Khi giáo viên áp dụng các biện pháp đọc sáng tạo, đàm thoại gợi mở và ứng dụng công nghệ thông tin, học sinh được trực tiếp thâm nhập vào cấu tứ, hình tượng của tác phẩm, từ đó chuyển hóa nhu cầu học tập từ bị động sang chủ động.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự thay đổi tích cực có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột kép so sánh mức độ hứng thú trước và sau thực nghiệm (mức độ rất hứng thú tăng từ 11,3% lên 82,4%) và bảng phân phối tần số điểm kiểm tra (tỷ lệ điểm giỏi từ 8 đến 10 điểm tăng thêm 33,3% tại lớp thực nghiệm). Khi so sánh với các công trình trước đây của Nguyễn Thị Tuyết (1981) và Bùi Quốc Đạt về hứng thú học văn của học sinh trung học phổ thông, luận văn này đã tiến xa hơn một bước khi không chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng hay đưa ra các thủ pháp nhỏ lẻ, mà đã thiết lập được một hệ thống giải pháp sư phạm đồng bộ, gắn liền với đặc trưng thi pháp của từng bài học cụ thể trong sách giáo khoa Ngữ văn 10.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các tồn tại trong thực tiễn giảng dạy thơ Đường, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, đổi mới phương pháp dạy học đặc thù bộ môn bằng kỹ thuật đọc sáng tạo kết hợp vấn đáp đàm thoại có định hướng. Giáo viên bộ môn Ngữ văn cần hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, ngâm thơ đúng nhịp điệu nguyên tác chữ Hán và bản dịch thơ, tổ chức phân tích đối chiếu từ ngữ để làm nổi bật cái thần của ngôn từ cô đọng. Mục tiêu hướng tới là nâng tỷ lệ học sinh hiểu đúng cấu tứ và thi luật lên trên 85% trong mỗi học kỳ.

Thứ hai, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin và phương tiện đa phương tiện vào bài giảng. Tổ chuyên môn Ngữ văn phối hợp cùng Ban giám hiệu nhà trường trang bị hệ thống máy chiếu, tư liệu hình ảnh về lầu Hoàng Hạc, sông Trường Giang, chân dung các thi nhân Lý Bạch, Đỗ Phủ cùng các đoạn ngâm thơ Đường chuẩn mực. Thời gian hoàn thành việc số hóa hệ thống tư liệu giảng dạy 5 tác phẩm thơ Đường lớp 10 được xác định trong vòng 6 tháng đầu năm học.

Thứ ba, đẩy mạnh phương pháp dạy học theo nhóm và tổ chức trò chơi học tập tương tác. Giáo viên thiết kế các dự án học tập nhỏ như vẽ tranh minh họa thơ, sân khấu hóa cảnh tiễn biệt, giải ô chữ văn học Đường thi. Mục tiêu tạo điều kiện cho 100% học sinh tham gia hoạt động nhóm, giúp cải thiện 30% kỹ năng hợp tác và khả năng tự tin trình bày quan điểm cá nhân sau 1 năm học.

Thứ tư, điều chỉnh phân phối thời lượng chương trình và đa dạng hóa hình thức kiểm tra đánh giá. Khuyến nghị Sở Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét tăng thời lượng giảng dạy phần thơ Đường từ 1 tiết lên 2 tiết cho các bài trọng tâm, đồng thời đưa các câu hỏi phân tích, cảm thụ văn học nước ngoài vào đề thi học kỳ định kỳ nhằm xóa bỏ tâm lý xem nhẹ môn học của học sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông: Khai thác trực tiếp hệ thống giáo án thực nghiệm mẫu, các phiếu học tập và quy trình tổ chức trò chơi văn học để áp dụng ngay vào các tiết dạy thơ Đường trên lớp, giúp biến các giờ học văn cổ điển vốn khô khan trở nên sinh động, cuốn hút.

Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn: Sử dụng luận văn như một tài liệu nghiên cứu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu sư phạm, cách thức xây dựng bảng hỏi điều tra 200 mẫu và kỹ thuật thiết kế thực nghiệm đối chứng trong nghiên cứu giáo dục.

Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên biên soạn chương trình: Tiếp cận các số liệu khảo sát thực tế khách quan (như con số 70,5% giáo viên phản ánh bất cập về thời lượng) để làm căn cứ điều chỉnh khung phân phối chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng và ngân hàng đề thi môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông.

Học sinh lớp 10 yêu thích văn học cổ điển: Tham khảo phương pháp tiếp cận thi pháp thơ Đường theo đặc trưng thể loại, nắm vững các quy tắc niêm luật, nghệ thuật đối và cấu tứ bài thơ để tự học, tự đọc hiểu và nâng cao năng lực cảm thụ văn học của bản thân.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao học sinh lớp 10 thường cảm thấy thơ Đường xa lạ và khó tiếp thu? Học sinh lớp 10 thường gặp khó khăn do khoảng cách lịch sử hơn 1.000 năm, sự khác biệt về văn hóa thời Đường và rào cản từ ngữ Hán Việt. Hơn 51,9% học sinh được khảo sát không phân biệt được thơ Đường và thơ Đường luật, dẫn đến việc không cảm nhận được vẻ đẹp hàm súc, ước lệ của tác phẩm.

Phương pháp đọc sáng tạo giúp ích như thế nào trong việc tạo hứng thú học tập? Đọc sáng tạo giúp học sinh thâm nhập trực tiếp vào nhạc điệu, âm thanh và nhịp thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt. Qua việc ngâm thơ và đọc diễn cảm các bài thơ như "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng", học sinh dễ dàng rung cảm với tâm trạng chia ly của tác giả Lý Bạch.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy thơ Đường có làm giảm đi tính chất văn chương không? Hoàn toàn không, công nghệ thông tin đóng vai trò trực quan hóa các không gian nghệ thuật xa xưa như dòng Trường Giang hay lầu Hoàng Hạc. Khi kết hợp hình ảnh, âm nhạc cổ điển với lời bình của giáo viên, học sinh lớp thực nghiệm đạt mức độ hào hứng lên tới 82,4%.

Dạy học theo nhóm có phù hợp với đặc thù cảm thụ cá nhân của môn Ngữ văn không? Dạy học nhóm kích thích sự trao đổi, tranh biện về các tầng ý nghĩa sâu xa của thi phẩm. Sau khi thảo luận tập thể, mỗi cá nhân tự rút ra bài học nhân sinh cho riêng mình, giúp kết quả bài kiểm tra nhận thức đạt loại khá giỏi lên tới 78,5% tại lớp thực nghiệm 10A4.

Cần làm gì để khắc phục tình trạng giáo viên e ngại dạy thao giảng phần thơ Đường? Cần tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn chuyên sâu, cung cấp tài liệu giảng dạy đa phương tiện và điều chỉnh thời lượng tiết học linh hoạt. Khi có phương pháp dạy học tích cực rõ ràng, giáo viên sẽ tự tin vượt qua tỷ lệ 83,5% e ngại thao giảng như khảo sát ban đầu.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tâm lý hứng thú học tập của A. G. Cô-va-li-nôp và các đặc trưng thi pháp cốt lõi của thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10.
  • Khảo sát thực trạng 200 giáo viên và học sinh tại 3 trường trung học phổ thông ở Hà Nội phản ánh chân thực các rào cản về phương pháp, thời lượng và tâm lý e ngại văn học cổ điển.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp sư phạm đột phá kết hợp phương pháp đặc thù bộ môn, kỹ thuật dạy học tích cực và ứng dụng công nghệ thông tin.
  • Kết quả thực nghiệm tại lớp 10A4 trường Trung học phổ thông Hoàng Văn Thụ khẳng định tính khả thi vượt trội với 78,5% học sinh đạt loại khá giỏi và 82,4% học sinh hào hứng học tập.
  • Đóng góp nguồn tư liệu thực tiễn quý giá gồm giáo án mẫu, phiếu quan sát và hệ thống bảng hỏi chuẩn hóa cho công tác nghiên cứu sư phạm Ngữ văn.

Đóng góp chính của luận văn là mở ra một hướng tiếp cận mới, biến phần thơ Đường từ nội dung khó dạy, khó học thành những giờ học giàu tính thẩm mĩ và lôi cuốn. Kế hoạch tiếp theo trong năm học 2012 - 2013 là tiếp tục nhân rộng mô hình thực nghiệm sang các trường trung học phổ thông trên toàn địa bàn Hà Nội. Quý thầy cô giáo và các nhà nghiên cứu hãy áp dụng ngay các biện pháp sư phạm này để thắp lên ngọn lửa đam mê văn học cổ điển trong mỗi thế hệ học sinh.