phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý giáo viên trung học phổ thông theo tiếp cận chuẩn hoá. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý giáo viên trường THPT Thịnh Long, tỉnh Nam Định theo các Chuẩn nghề nghiệp do Bộ GD&ĐT quy định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý giáo viên trường THPT Thịnh Long, tỉnh Nam Định theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỊNH LONG ĐÁP ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN TRUNG HỌC 1. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Đội ngũ giáo viên * Giáo viên: - Theo Luật giáo dục 2005 của nhà nước ta, giáo viên là nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục … - Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn: (Luật giáo dục – Điều 70) + Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt. + Đạt trình độ chuẩn, được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp. + Lý lịch bản thân rõ ràng. - Giáo viên có những nhiệm vụ sau: (Luật Giáo dục – Điều 72) + Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục. + Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường.
+ Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học. + Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức trình độ chính trị, chuyên môn, nhiệm vụ đổi mới phương pháp giáo dục nêu gương tốt cho người học. + Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật 1. Quản lý, biện pháp quản lý 1.
Quản lý - Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ quản lý tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong 1 tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra”. * Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý” gồm 2 quá trình tích hợp lại với nhau, gắn kết với nhau “Quản” là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trong trạng thái “ổn định”, “lý” là sự sửa sang, sắp xếp đổi mới hệ vào thế “phát triển”. Quản lý là ổn định và phát triển hệ thống.
Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Do vậy người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “lý” và trong “Lý” phải có “Quản” làm cho trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn được ở trạng thái cân bằng động. Như vậy qua các cách giải thích về Quản lý như trên chúng ta thấy: Các khái niệm trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, song chúng có chung những nét đặc trưng cơ bản sau đây: * Hoạt động Quản lý được tiến hành trong 1 nhóm tổ chức hay 1 nhóm xã hội. * Hoạt động Quản lý là những tác động có tính định hướng đích.
* Hoạt động Quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Trả lời được câu hỏi: Ai quản lý? Đó là chủ thể Quản lý. Như vậy: chủ thể Quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm người hay bộ máy quản lí một tổ chức do người cụ thể lập nên. Cá nhân làm chủ thể Quản lý được gọi chung là Cán bộ Quản lý.
Trả lời cho câu hỏi: Quản lý ai? Quản lý cái gì? Quản lý sự việc gì? thì đó là đối tượng Quản lý. Do đó đối tượng quản lý có thể là Người bị quản lí; công việc theo sứ mạng của tổ chức và điều kiện nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ được giao. Giữa chủ thể Quản lý và khách thể Quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau. nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công cụ Quản lý là các phương tiện mà chủ thể Quản lý dùng tác động đến đối tượng Quản lý như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chương trình, kế hoạch, mệnh lệnh … Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể Quản lý đến đối tượng quản lý. Phương pháp quản lý rất phong phú và đa dạng: phương pháp thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính – tổ chức, phương pháp tâm lý – giáo dục …; Tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau. Về chức năng quản lý có nhiều cách phân chia khác nhau, do quan điểm của từng tác giả, song nhìn chung cá nhà nghiên cứu về lĩnh vực khoa học Quản lý đều cơ bản thống nhất chung 4 chức năng của Quản lý là kế hoạch hóa – tổ chức – chỉ đạo và kiểm tra. * Kế hoạch hóa: là khởi điểm của 1 quá trình Quản lý.
Kế hoạch hóa là quá trình vạch ra mục tiêu và quy định phương thức đạt được mục tiêu (đó là con đường, cách thức, biện pháp cho hoạt động trong tương lai). * Tổ chức: là 1 quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ, sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã được vạch ra. Để thực hiện tốt vấn đề phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực, chức năng tổ chức thực hiện những nội dung sau: - Xác định cấu trúc của tổ chức. - Xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực (gồm quy hoạch đội ngũ, tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng, thẩm định, thuyên chuyển, đề bạt, sa thải …).
- Xác định cơ chế hoạt động, các mối quan hệ của tổ chức. * Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể Quản lý tới đối tượng Quản lý nhằm điều khiển tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch để đạt được mục đích, mục tiêu đề ra. * Kiểm tra: hoạt động kiểm tra bao gồm việc kiểm tra, giám sát, theo dõi, phát hiện, xử lý tình huống và kết quả. Hoạt động kiểm tra cũng là 1 quá trình tự điều khiển.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 chức năng quản lý có liên quan mật thiết với nhau, chúng luôn thực hiện liên tiếp đan xen nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau, tạo thành một chu trình quản lý. Trong chu trình này yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện chức năng quản lý và ra quyết định quản lý. Mối quan hệ này được thể hiện qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Từ những khái niệm trên, ta có thể rút ra kết luận chung về quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức và có lựa chọn của chủ thể quản lý đến đối tượng (khách thể) Quản lý nhằm giữ cho sự vận hành của tổ chức được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất. Biện pháp quản lý - Biện pháp: theo từ điển Tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên, biện pháp là “cách làm, cách thức tiến hành”.
Biện pháp là cách thức hành động để thực hiện một mục đích, là cách làm giải quyết một vấn đề cụ thể. - Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử dụng một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, cùng một biện pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Biện pháp quản lý là cách thức tác động vào đối tượng quản lý giúp chủ thể nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đề ra. Các biện pháp được đánh giá theo các tiêu chí sau: + Tính kế thừa: không làm sáo trộn, hay quá thay đổi cái đã có mà kế thừa có chọn lọc.
+ Tính phù hợp: biện pháp đưa ra là những biện pháp phù hợp với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể. + Tính khả thi: Biện pháp không bị các yếu tố chi phối, nó ràng buộc ở mức độ cao. + Tính hiệu quả: biện pháp giải quyết được vấn đề đặt ra và không làm nảy sinh những vấn đề phức tạp hơn. Các yếu tố ràng buộc gồm: quyền lực, văn hóa, đạo đức, tài chính, thời gian, con người và chính sách pháp luật.
Từ các phân tích trên có thể hiểu rằng biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên là hoạt động cụ thể được chủ thể quản lý sử dụng để tác động đến các thành tố cấu trúc của đội ngũ giáo viên nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại của đội ngũ này và phát triển nó theo mục tiêu đã được xác định, đáp ứng với yêu cầu của bối cảnh mới. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Giáo dục * Quản lý Giáo dục được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau: - Quản lý Giáo dục theo nghĩa rộng là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm quản lý tất cả các hoạt động Giáo dục, các hoạt động mang tính chất giáo dục của bộ máy Nhà nước, các tổ chức xã hội và của hệ thống giáo dục quốc dân. - Quản lý Giáo dục theo nghĩa hẹp bao gồm quản lý hệ thống giáo dục quốc dân (quản lý tất cả các hoạt động Giáo dục & Đào tạo trong các đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh, quốc gia, nhà nước) và quản lý nhà trường (quản lý các hoạt động Giáo dục & Đào tạo trong các cơ sở giáo dục) 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động Giáo dục.