CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Ngày nay trong giáo dục thế giới đã xuất hiện xu hướng “cải cách dựa trên các chuẩn” (reform based on standards). Nhiều nước đã tiến hành xây dựng bộ chuẩn cho giáo dục của nước mình: chuẩn chất lượng giáo dục, chuẩn nhà trường, chuẩn cán bộ quản lý giáo dục, chuẩn giáo viên.
Trong bộ chuẩn cho giáo viên có chuẩn trình độ đào tạo, chuẩn chức danh, chuẩn nghề nghiệp (professional standard)… Trong chuẩn nghề nghiệp, một số nước đã tiến đến xây dựng chuẩn nghề nghiệp cho GV từng ngành học, cấp học, môn học. Chuẩn nghề nghiệp (sau đây gọi tắt là Chuẩn) của giáo viên phổ thông là văn bản quy định các yêu cầu cơ bản về phẩm chất, năng lực mà người giáo viên cần đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu của giáo dục phổ thông. Hoa Kỳ Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông. Uỷ ban quốc gia chuẩn nghề dạy học (National Board for Professional Teacher Standards – NBPTS) - được thành lập năm 1987 - đã đề xuất 5 điểm cốt lõi để các bang vận dụng: (i) Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học của họ (Teachers are Committed to Students and Their Learning).
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vương quốc Anh Chuẩn nghề nghiệp giáo viên của Anh (2007) được cấu trúc gồm 3 phần (lĩnh vực) có liên quan lẫn nhau, đó là: (i) Những đặc trưng nghề nghiệp (ii) Kiến thức và sự am hiểu nghề nghiệp (iii) Các kĩ năng nghề nghiệp. Mỗi phần (lĩnh vực) lại có các tiêu chuẩn. Các tiêu chuẩn này chung cho tất cả các loại giáo viên.
Mỗi tiêu chuẩn có các yêu cầu. Đối với mỗi loại giáo viên có những yêu cầu khác nhau (cả về số lượng và mức độ). Chuẩn nghề nghiệp giáo viên được xác định cụ thể cho từng giai đoạn phát triển nghề của giáo viên: - Giáo viên mới vào nghề (Q): (33 yêu cầu) - Dành cho tất cả giáo viên (C): (41 yêu cầu) - Giáo viên trong thang bậc trả lương cao (P): (10 yêu cầu) - Giáo viên giỏi (E): (15 yêu cầu) - Giáo viên có kĩ năng cấp cao (chuyên gia) (A): (3 yêu cầu) 1. Cộng hòa Liên bang Đức Theo nghị quyết Hội nghị Bộ trưởng Văn hoá Giáo dục các bang trong Liên bang (2004) thì chuẩn đào tạo giáo viên là những yêu cầu mà mọi giáo viên phải đáp ứng.
Theo đó, những nét chính về hình ảnh nghề nghiệp của người giáo viên là: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (i) Giáo viên là những chuyên gia về dạy và học. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá quá trình dạy và học. (ii) Giáo viên phải ý thức được rằng nhiệm vụ của họ gắn bó chặt chẽ với các giờ lên lớp và với cuộc sống nhà trường. (iii) Giáo viên thực thi nhiệm vụ đánh giá và tư vấn một cách công bằng có trách nhiệm.
Muốn vậy họ phải có trình độ cao về sư phạm tâm lý và chẩn đoán. (iv) Giáo viên liên tục phát triển các năng lực nghề nghiệp của mình, tận dụng mọi cơ hội để theo kịp các phát triển mới trong hoạt động nghề nghiệp. (v) Giáo viên tham gia xây dựng một nền văn hoá học đường khuyến khích học tập. Khối Australia Khối Australia xây dựng Khung quốc gia về chuẩn nghề nghiệp dạy học (The National Framework for Professional Standards for Teaching).
Trên cơ sở đó, các bang xây dựng chuẩn nghề nghiệp riêng của mình. Khung quốc gia có 4 lĩnh vực : (i) Kiến thức nghề nghiệp (Professional Knowledge) (ii) Thực hành nghề nghiệp (Professional Practice) (iii) Giá trị nghề nghiệp (Professional Values) (iv) Quan hệ nghề nghiệp (Professional Relationships). Đối với các bang, không nhất thiết xây dựng cả 4 lĩnh vực, chỉ hai lĩnh vực 1 và 2 là giống nhau, các lĩnh vực 3 và 4 không giống nhau. Trung Quốc Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp đánh giá giáo dục nói chung, đánh giá giáo viên nói riêng của các tác giả Thường Phong Mã (2005), Liên Bản Cố (2001), Thẩm Ngọc Thuần (2002) Ngô Cương (1996, 2001).
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ở trong nước Đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên đã có nhiều công trình nghiên cứu. Trong chuyên khảo ”Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất ĐNGV” [3], của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa, sau khi đề cập đến những vấn đề chung về phẩm chất, năng lực của người thầy, nghề thầy trong bối cảnh phát triển mới, nhóm tác giả đã đề ra các con đường để người thầy tự tìm hiểu nâng cao được năng lực của bản thân, đáp ứng yêu cầu của nhà giáo trong điều kiện đất nước thực hiện hội nhập và công nghiệp hóa, đưa giáo dục vào sự chuẩn hóa, hiện đại hóa. Nhằm triển khai thực hiện chỉ thị 40/CT – TW của Ban bí thư về ”Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010” [1], Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục (nay là viện Khoa học giáo dục Việt Nam) đã thực hiện ”Nghiên cứu đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo Việt Nam” làm căn cứ cho các quyết định có liên quan tới đội ngũ nhà giáo.
Khi đề cập đến vấn đề giáo viên trong giáo dục, bản báo cáo khuyến nghị những khía cạnh cần được quan tâm nhằm nâng cao năng lực về chuyên môn cho cả ĐNGV. Theo Nguyễn Hữu Châu trong "Chất lượng giáo dục – Những vấn đề lí luận và thực tiễn”[22] ngoài các yêu cầu về tư tưởng đạo đức của người giáo viên, ngày nay để thực hiện sứ mệnh của mình người giáo viên còn cần có những năng lực cơ bản sau: chuẩn đoán, đáp ứng, đánh giá, thiết lập mối quan hệ, triển khai chương trình giáo dục, quan hệ xã hội. Tác giả Lã Thị Oanh trong luận văn «Các biện pháp quản lý giáo viên của hiệu trưởng trường THPT đạt chuẩn quốc gia ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu»[39] đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp để quản lý giáo viên trong các trường THPT đạt chuẩn nhằm duy trì và giữ vững 5 tiêu chuẩn của trường chuẩn quốc gia. Tác giả Ngô Đức Sáu trong luận văn «Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường THCS huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trong giai 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoạn hiện nay»[42] đã đề cập tới thực trạng đội ngũ, thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THCS và đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả Nguyễn Quốc Nam trong luận văn «Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Mê Linh, Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp»[36] đã nghiên cứu thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên và quán lý phát triển đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp, đề xuất các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THPT huyện Mê Linh theo chuẩn nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu xủa xã hội về đổi mới giáo dục và tiếp cận hội nhập với giáo dục quốc tế, năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học. Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non. Năm 2009 Bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, giáo viên THPT [11].
Trong các quyết định ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên này đều hướng dẫn cách đánh giá giáo viên và quy trình thực hiện. Tóm lại vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên theo quan điểm chuẩn hóa là vấn đề cấp thiết được quan tâm và tập trung nghiên cứu. Tuy nhiên phát triển đội ngũ giáo viên ở tỉnh Điện Biên, nhất là trong trường phổ thông dân tộc nội trú THPT thì vẫn còn nhiều điều bất cập và cần tiếp tục nghiên cứu. Vì vậy tác giả trên cơ sở kế thừa kết quả những nghiên cứu đã có tiếp tục nghiên cứu thực trạng đội ngũ và công tác phát triển đội ngũ của Trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện Điện Biên trong thời gian qua và từ đó đề xuất biện pháp giải quyết các yêu cầu mà giáo dục đào tạo đặt ra với nhà trường.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Bất kì một ngành khoa học nào cũng đều bắt nguồn từ thực tiễn, nó tổng kết thực tiễn, giải thích thực tiễn và khi đã có một hệ lí thuyết hoàn chỉnh, nó sẽ góp phần dự đoán và định hướng sự phát triển của thực tiễn theo những quy 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luật khách quan. Tất cả các ngành khoa học đều tuân theo quy luật này từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có cả khoa học quản lý. Cho tới nay, khoa học quản lý đã trở thành một khoa học độc lập, mặc dù nó vẫn là một lĩnh vực non trẻ nhưng ngày càng có vai trò quan trọng thiết yếu đối với thực tiễn cuộc sống của nhân loại và mỗi quốc gia.
Từ thời cổ đại các tư tưởng quản lý sơ khai đã hình thành và phát triển tuy chỉ giới hạn trong tư tưởng triết học nhưng nhiều quan điểm đã được ứng dụng vào quản lý ở cấp vĩ mô. Bước vào thời kì Phục hưng và sau đó là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với sự phát triển mạnh mẽ của máy móc, công xưởng, dây chuyền sản xuất… yêu cầu về quản lý không ngừng tăng lên cả về quản lý vi mô và vĩ mô. Quản lý từng bước được tách khỏi triết học và dần dần trở thành một môn khoa học độc lập, có sự tham gia và đóng góp của nhiều trường phái và nhiều học giả. Trong các trường phái và học giả đóng góp vào khoa học quản lý thì dấu mốc quan trọng nhất là thuyết quản lý khoa học của Fredrick Winslow Taylor (1856 – 1915) với tác phẩm “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” được xuất bản năm 1911 đánh dấu các tư tưởng quản lý được nghiên cứu như một ngành khoa học.
Theo Taylor thì “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.