Tổng quan luận án
Công trình luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số 9 22 90 40) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thu Hằng, được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2019 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Cầm và TS. Đoàn Thị Tuyến, mang tiêu đề: "Múa dân gian đương đại: Vấn đề bản sắc trong xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Kể từ dấu mốc năm 1986, khi Việt Nam thực hiện công cuộc Đổi mới và mở cửa hội nhập toàn diện với thế giới, sự thâm nhập nhanh chóng của các luồng văn hóa, nghệ thuật ngoại nhập đã tạo nên sự biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội. Bối cảnh này đặt ra mối quan tâm và lo ngại xã hội về nguy cơ "cào bằng văn hóa" hay "mất bản sắc dân tộc", nhất là đối với một quốc gia hậu thuộc địa luôn có nhu cầu khẳng định tính độc lập và căn tính riêng biệt.
Vấn đề xây dựng nền văn hóa "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" đã được thể chế hóa trong các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, khởi đầu từ Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa VII (tháng 1/1993), tiếp tục được củng cố qua các kỳ Đại hội Đảng VIII, IX, X, XI, XII và Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (2014). Trong nghệ thuật múa, sự phát triển mạnh của các thể loại nhảy múa hiện đại phương Tây khiến múa dân gian thuần chất có nguy cơ vắng bóng trên sân khấu chuyên nghiệp. Giới biên đạo và nghệ sĩ đứng trước đòi hỏi phải tìm kiếm con đường sáng tác mới: vừa bắt nhịp với ngôn ngữ nghệ thuật của thời đại, vừa lưu giữ và biểu đạt được bản sắc văn hóa dân tộc. Luận án lựa chọn thể loại múa dân gian đương đại như một nghiên cứu trường hợp cụ thể để giải mã quá trình kiến tạo bản sắc văn hóa quốc gia và tộc người trong bối cảnh hội nhập.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là làm rõ sự kiến tạo văn hóa quốc gia, dân tộc trong bối cảnh hội nhập ở Việt Nam hiện nay thông qua việc khảo sát vấn đề bản sắc trong thể loại múa dân gian đương đại và các tác phẩm tiêu biểu.
Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Trình bày và phân tích nội dung, hình thức thể hiện của các tác phẩm múa dân gian đương đại tiêu biểu có sự kết hợp giữa tính dân tộc, đậm đà bản sắc và yếu tố hiện đại.
- Tìm hiểu và chỉ ra các quan điểm, đánh giá, nhận xét của các nghệ sĩ, nhà phê bình, nhà lý luận về một số tác phẩm múa dân gian đương đại, đặc biệt là các quan điểm liên quan đến bản sắc văn hóa.
- Xem xét và mô tả các thành tố văn hóa, kỹ thuật được sử dụng để thể hiện tính bản sắc dân tộc và tính hiện đại trong các tác phẩm múa dân gian đương đại.
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu chính:
- Múa dân gian đương đại đã được sử dụng để tham gia vào quá trình tạo dựng bản sắc văn hóa Việt Nam như thế nào?
- Những người nghệ sĩ múa đã và đang làm như thế nào để các tác phẩm của mình có thể vừa "gìn giữ bản sắc" vừa thể hiện sự "hội nhập" với xã hội đương đại?
- Những thành tố văn hóa nào được sử dụng để thể hiện tính "bản sắc" của dân tộc?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các tác phẩm múa dân gian đương đại Việt Nam và những vấn đề liên quan như bối cảnh ra đời, quan điểm sáng tác, kỹ thuật thể hiện, cùng các diễn ngôn về bản sắc văn hóa trong nghệ thuật sau Đổi mới.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ khi Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới và mở cửa (1986) đến thời điểm thực hiện luận án (2019).
- Phạm vi tác phẩm và tộc người: Luận án khảo sát 12 tác phẩm múa dân gian đương đại tiêu biểu phản ánh chất liệu văn hóa của 10 vùng miền và tộc người trên cả nước (gồm người Kinh, Thái, Mường, Cao Lan, Dao, Chăm, Khmer). Danh mục 12 tác phẩm bao gồm: Sóng lụa ven đô, Sương sớm, Thân phận, Nhinh sao, Nhịp điệu Tang Sành, Sắc màu non cao, Séc bùa hồn chiêng, Tiếng trống Paranul (Trống Paranul), Huyền ảo vĩnh hằng, Múa quạt, Nấm báo mưa, Robam Keo Moni Mekhala.
- Phạm vi không gian khảo sát thực tế: Các địa bàn nghiên cứu điền dã và tổ chức thảo luận nhóm gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Trà Vinh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Sóc Trăng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân chia thành ba nhóm chủ đề chính:
1. Các nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật múa và múa dân gian Việt Nam
- Lê Ngọc Canh: Công trình tiêu biểu Lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam (2009) tổng kết tiến trình phát triển của nghệ thuật múa gắn liền với lịch sử dân tộc. Các khảo cứu chuyên biệt của ông như Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam (1998), Nghệ thuật múa người Mạ (2005), Nghệ thuật múa tộc người Châu Ro (2005) đã ghi nhận múa như một thành tố văn hóa gắn liền với tín ngưỡng, phản ánh ý nghĩa biểu tượng của văn hóa tộc người.
- Lâm Tô Lộc: Tác phẩm Nghệ thuật múa dân tộc Việt (1979) và Tìm hiểu về nghệ thuật múa Việt Nam (2001) cung cấp những khảo sát thực tiễn về kho tàng múa dân gian, làm cơ sở biên soạn giáo trình giảng dạy múa chuyên nghiệp.
- Ứng Duy Thịnh: Công trình Múa dân gian trong tác phẩm múa chuyên nghiệp Việt Nam (2006) phân tích sự chuyển hóa của chất liệu múa dân gian khi bước lên sân khấu chuyên nghiệp.
2. Các nghiên cứu và thảo luận về tính dân tộc và hiện đại trong nghệ thuật múa
- Cuốn sách Những vấn đề dân tộc hiện đại trong nghệ thuật múa (Bộ Văn hóa Thông tin và Viện Âm nhạc và Múa xuất bản năm 1993) tập hợp 26 bài tham luận của giới chuyên môn. Trong đó:
- Vũ Đức Thoàn (1993): Cho rằng tính dân tộc nằm ở cốt cách, tính cách con người Việt Nam (bền bỉ, cần cù, cứng cỏi, anh hùng) và giữ gìn bản sắc phải gắn với tiếp thu tinh hoa nhân loại.
- Lê Ngọc Canh (1993): Phân loại múa thành 3 dạng (Múa dân gian; Múa sáng tác trên chất liệu múa dân gian; Múa mới), đồng thời lưu ý xu hướng múa mới dễ làm mờ nhạt dấu ấn truyền thống nếu thiếu sự am hiểu cội nguồn.
- Lâm Tô Lộc (1993): Đề xuất khái niệm "mô hình nhân cách sáng tạo tối ưu" – người biên đạo đồng thời là nhà nghiên cứu để xử lý mối quan hệ giữa tiếp biến văn hóa và dân tộc hóa các yếu tố ngoại nhập.
- Các bài viết khác của Hoàng Hà, Ngọc Cường, Trương Lê Giáp cùng làm rõ vị trí của di sản múa trong sáng tác hiện đại.
- Cuốn sách Nghệ thuật múa những khoảnh khắc sáng tạo (tập I và II, Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam, NXB Mỹ thuật, 2015) ghi nhận thực tiễn tìm tòi cái mới của các biên đạo đương thời.
- Các bài viết trên tạp chí chuyên ngành: Ngân Quý (bàn về múa dân gian và công tác huấn luyện), NSND Thái Phiên (Tạp chí Nhịp điệu, số 192/2016) phê phán hiện tượng "đạo múa" và sao chép ngoại lai làm mất phong tục bản địa, Nghệ sĩ Lê Huân (Tạp chí Nhịp điệu, số 192/2016) nhấn mạnh tinh thần tự tôn và tri thức văn hóa dân tộc của biên đạo.
3. Các nghiên cứu về bản sắc, chủ nghĩa dân tộc và toàn cầu hóa
- Nhóm nghiên cứu trong nước:
- Nguyễn Đăng Duy (2005) xác định bản sắc văn hóa qua hệ giá trị và chuẩn mực xã hội (yêu nước, tự cường, nhân ái, cần cù).
- Nguyễn Thụy Loan (2014) xem ý thức kiên trì gìn giữ bản sắc là giá trị bền vững trong lịch sử chống ngoại xâm.
- Lê Như Hoa (1996, 2003) phân tích bản sắc qua lối sống và coi bản sắc là bộ lọc tiếp nhận trong bối cảnh công nghiệp hóa.
- Đỗ Huy và Trường Lưu (1990) phân định bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc hiện đại.
- Nguyễn Văn Chính phân tích tính chất "cấu trúc nhân tạo" (artificially constructed identity) của các biểu tượng bản sắc (như thực hành thờ cúng tổ tiên) trước bối cảnh toàn cầu hóa.
- Nguyễn Văn Xuân bàn về sự biến đổi y phục như một sự thích ứng và hình thành bản sắc mới qua các thời kỳ lịch sử.
- Nguyễn Chí Bền (2010), Trường Lưu (2003), Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (2002) chỉ ra những thách thức của kinh tế thị trường đối với việc bảo lưu di sản văn hóa.
- Nhóm nghiên cứu quốc tế và lý thuyết nền tảng:
- Erik Erikson (1950) tiếp cận bản sắc từ tâm lý học nhân cách.
- Zygmunt Bauman (2004), Jenkins (2008), Rummen (1993) phân tích bản sắc trong khoa học xã hội như một cảm nhận tự thân và sự chia sẻ nhóm.
- Chris Barker (2001, 2011) định nghĩa bản sắc như một kết cấu mang tính diễn ngôn, luôn biến đổi theo bối cảnh.
- John Tomlinson (1999) nhận định toàn cầu hóa là động lực làm sinh sôi và đa dạng hóa các bản sắc mới, đối lập với quan điểm coi toàn cầu hóa chỉ thuần túy hủy diệt văn hóa bản địa (Mustafa 2006).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu trước đây về múa tại Việt Nam tiếp cận dưới góc độ lịch sử nghệ thuật, phân loại ngôn ngữ múa, miêu tả động tác kỹ thuật hoặc xem bản sắc là một thực thể tĩnh tại có sẵn. Luận án của Nguyễn Thu Hằng bổ khuyết khoảng trống này bằng cách tiếp cận múa dân gian đương đại từ góc nhìn văn hóa học và xã hội học, đặt tác phẩm múa vào tiến trình kiến tạo bản sắc xã hội trong thời kỳ Đổi mới và hội nhập quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Khung Lý Thuyết Tiếp Cận
Quan điểm Kiến tạo luận Tiếp cận Xã hội học về Múa
(Social Constructivism) (Helen Thomas 1986, 1996)
- Chris Barker (2001, 2011) - Chiều kích nội tại (Intrinsic):
- Đoàn Thị Tuyến (2014) Động tác, âm nhạc, trang phục, tạo hình
- Nguyễn Văn Chính (Nhân học) - Chiều kích ngoại tại (Extrinsic):
=> Bản sắc biến đổi theo bối cảnh, Bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
mang tính diễn ngôn & tạo dựng - Tham chiếu: Yu-ling Chao (Đài Loan)
-
Quan điểm kiến tạo luận về bản sắc văn hóa:
Khác với quan điểm bản thể luận (tiêu biểu như luận điểm của Phan Ngọc coi bản sắc là mặt bất biến, tĩnh tại của văn hóa), luận án vận dụng quan điểm kiến tạo luận (Constructivism). Dựa trên cơ sở lý thuyết của Chris Barker (2001, 2011), Đoàn Thị Tuyến (2014) và Nguyễn Văn Chính, bản sắc văn hóa được hiểu là một quá trình vận động không ngừng, được tạo dựng và tái định hình thông qua trải nghiệm xã hội và diễn ngôn trong các bối cảnh lịch sử cụ thể. Bản sắc bao gồm cả giá trị truyền thống lẫn các yếu tố mới được sáng tạo nhằm thích ứng với yêu cầu của xã hội đương đại.
-
Hướng tiếp cận xã hội học văn hóa về múa của Helen Thomas:
Vận dụng lý thuyết từ các công trình Chuyển động, chủ nghĩa hiện đại và văn hóa đương đại: các vấn đề của một xã hội học văn hóa về múa (1986) và Múa, tính hiện đại và văn hóa (1996) của Helen Thomas. Tác giả xem xét tác phẩm múa thông qua hai chiều kích có mối quan hệ tương liên mật thiết:
- Chiều kích nội tại (intrinsic): Ngôn ngữ động tác, chuyển động hình thể, âm nhạc, trang phục, đạo cụ, tuyến múa, kỹ thuật tạo hình sân khấu.
- Chiều kích ngoại tại (extrinsic): Bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch sử và các định hướng chính sách phát triển văn hóa.
Mô hình này đã từng được học giả Yu-ling Chao (2000) áp dụng để nghiên cứu vai trò của Nhà hát Múa Cloud Gate trong việc kiến tạo chủ nghĩa dân tộc và bản sắc văn hóa tại Đài Loan thông qua các tác phẩm như Legacy (1978) và Nice Songs (1993).
-
Khái niệm múa dân gian và múa dân gian đương đại:
- Múa dân gian (Folk dance): Luận án tổng hợp định nghĩa của Lâm Tô Lộc và Lê Ngọc Canh, xác định múa dân gian là hình thái múa do quần chúng nhân dân sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ, nảy sinh từ lao động sản xuất, sinh hoạt cộng đồng, phong tục tập quán và nghi lễ tín ngưỡng (như múa lên đồng/hầu bóng trong đạo Mẫu, múa dô, múa dậm, múa cờ lau, xòe vòng, xòe chiêng).
- Múa dân gian đương đại: Luận án đưa ra giới thuyết xác định múa dân gian đương đại là các tác phẩm múa dân gian hoặc các tác phẩm được sáng tác bằng ngôn ngữ múa đương đại nhưng mang chủ đề, nội dung phản ánh truyền thống, dân gian Việt Nam; ra đời trong xã hội đương đại thời kỳ Đổi mới và hội nhập nhằm tham gia vào quá trình kiến tạo bản sắc dân tộc đáp ứng yêu cầu "tiên tiến" và "đậm đà bản sắc". Từ "đương đại" trong tên gọi vừa chỉ phương thức/ngôn ngữ biểu đạt vừa chỉ thời điểm, bối cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích văn bản và tư liệu:
- Quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp theo dõi các buổi biểu diễn nghệ thuật, chương trình giao lưu múa tại nhiều nhà hát và sân khấu trên toàn quốc.
- Phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 12 biên đạo múa của 12 tác phẩm tiêu biểu được lựa chọn. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn 5 nhóm đối tượng:
- Nhóm biên đạo, nghệ sĩ lão thành đã nghỉ hưu (thế hệ sưu tầm, chỉnh lý múa dân gian vào trường lớp chuyên nghiệp).
- Nhóm biên đạo, nghệ sĩ thế hệ 7x và 8x (thế hệ sáng tác trong thời kỳ hội nhập).
- Nhóm nhà quản lý văn hóa và nghệ thuật (đại diện cho quan điểm chính sách chính thống).
- Nhóm khán giả có chuyên môn nghệ thuật múa (nghệ sĩ, biên đạo, nhà phê bình).
- Nhóm khán giả ngoài ngành (công chúng đa dạng về lứa tuổi, nghề nghiệp).
- Thảo luận nhóm tập trung (Focus Group Discussion): Tổ chức hơn 10 cuộc tọa đàm, thảo luận nhóm (mỗi nhóm 7–10 người gồm biên đạo, nhà báo, nhà quản lý, diễn viên, nghệ nhân, người dân địa phương) tại 10 tỉnh, thành phố: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Trà Vinh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Sóc Trăng.
- Tổng hợp và phân tích tài liệu: Khảo cứu các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Trung ương, các bài viết trên kỷ yếu hội thảo, tạp chí chuyên ngành múa (Tạp chí Nhịp điệu của Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Múa Hà Nội) và các nghiên cứu văn hóa nghệ thuật liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương này dành phần lớn dung lượng để hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về múa dân gian, múa dân gian đương đại, lý thuyết bản sắc và các nghiên cứu về bối cảnh toàn cầu hóa. Tác giả phân tích sự đối lập giữa quan điểm bản thể luận và kiến tạo luận về bản sắc, từ đó xác lập việc sử dụng kiến tạo luận và tiếp cận xã hội học văn hóa của Helen Thomas làm khung phân tích chủ đạo. Đồng thời, chương 1 giới thuyết các khái niệm múa dân gian, múa tín ngưỡng và đưa ra định nghĩa thao tác về múa dân gian đương đại trong bối cảnh Việt Nam.
CHƯƠNG 2: XÃ HỘI VIỆT NAM SAU ĐỔI MỚI VÀ VẤN ĐỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC
Chương 2 phác họa bức tranh toàn diện về sự chuyển đổi kinh tế, xã hội, đối ngoại và văn hóa của Việt Nam sau năm 1986, cung cấp bối cảnh ngoại tại cho sự ra đời của múa dân gian đương đại:
- Chuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế: Nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế. Tác giả dẫn chứng các chỉ số kinh tế qua các giai đoạn:
- Giai đoạn 1986–1990: GDP tăng bình quân 4,4%/năm; nông nghiệp tăng 3,8–4%/năm; công nghiệp tăng 7,4%/năm; xuất khẩu tăng 28%/năm.
- Giai đoạn 1991–1995: Thoát khỏi khủng hoảng, GDP tăng bình quân 8,2%/năm; sản xuất công nghiệp tăng 13,3%/năm; nông nghiệp tăng 4,5%/năm; lương thực đạt 125,4 triệu tấn (tăng 27%).
- Giai đoạn 1996–2000: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; GDP bình quân đạt 7%/năm; công nghiệp - xây dựng tăng 10,5%.
- Giai đoạn 2001–2005: GDP tăng bình quân 7,5%/năm (năm 2005 đạt 8,4%, quy mô đạt 837,8 nghìn tỷ đồng, GDP bình quân đầu người đạt 640 USD). Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo, cà phê, hạt điều, tiêu, cao su hàng đầu thế giới.
- Mở rộng đối ngoại: Thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia (đạt 179 quốc gia vào năm 2011), quan hệ thương mại với hơn 220 thị trường; gia nhập ASEAN (1995), ASEM (1996), APEC (1998), WTO (2007); đảm nhiệm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (2008–2009) và Chủ tịch ASEAN (2010).
- Vấn đề bản sắc văn hóa và định hướng chính sách: Phân tích các diễn ngôn văn hóa về nguy cơ lai căng, tha hóa khi mở cửa thị trường. Luận án làm rõ quá trình Đảng và Nhà nước ban hành các nghị quyết văn hóa nhằm xây dựng con người mới, nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa tính "tiên tiến" (nội dung tư tưởng XHCN, phương tiện kỹ thuật hiện đại) và "bản sắc dân tộc" (hệ giá trị bền vững đúc kết qua lịch sử).
CHƯƠNG 3: BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM MÚA DÂN GIAN ĐƯƠNG ĐẠI TIÊU BIỂU
Chương 3 đi sâu vào phân tích lịch sử hình thành thể loại múa dân gian đương đại và khảo sát thực chứng 12 tác phẩm tiêu biểu. Phân tích chi tiết sự kết hợp giữa chất liệu bản sắc và thủ pháp nghệ thuật hiện đại qua các phương diện: chủ đề tư tưởng, hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ động tác, trang phục, âm nhạc, đạo cụ và không gian biểu diễn.
| STT |
Tên tác phẩm |
Tộc người / Vùng miền phản ánh |
Yếu tố chất liệu dân gian / truyền thống |
| 1 |
Sóng lụa ven đô |
Dân tộc Kinh (Đồng bằng Bắc Bộ) |
Nghề dệt lụa truyền thống, hình tượng dải lụa, sinh hoạt ven đô |
| 2 |
Sương sớm |
Dân tộc Kinh (Nam Bộ) |
Đời sống nông nghiệp lúa nước, cày cấy, sinh hoạt thôn dã Nam Bộ |
| 3 |
Thân phận |
Dân tộc Kinh |
Thân phận người phụ nữ trong xã hội truyền thống |
| 4 |
Múa quạt |
Dân tộc Kinh |
Đạo cụ quạt truyền thống, động tác múa cổ truyền |
| 5 |
Nhinh sao |
Dân tộc Thái |
Nét đẹp thiếu nữ Thái, sinh hoạt đời thường Tây Bắc |
| 6 |
Sắc màu non cao |
Dân tộc Mông / Vùng cao phía Bắc |
Màu sắc thổ cẩm, vũ điệu vùng cao |
| 7 |
Séc bùa hồn chiêng |
Dân tộc Mường |
Nghi lễ phường bùa, âm thanh và biểu tượng cồng chiêng Mường |
| 8 |
Nhịp điệu Tang Sành |
Dân tộc Cao Lan |
Điệu múa với nhạc cụ Tang Sành (trống đất/trống sành) |
| 9 |
Nấm báo mưa |
Dân tộc Dao |
Đời sống sinh hoạt, quan sát thiên nhiên và lễ thức người Dao |
| 10 |
Tiếng trống Paranul |
Dân tộc Chăm |
Nhạc cụ trống Paranul, múa lễ hội Chăm |
| 11 |
Huyền ảo vĩnh hằng |
Dân tộc Chăm |
Tượng tháp, vũ nữ Apsara, điêu khắc Champa |
| 12 |
Robam Keo Moni Mekhala |
Dân tộc Khmer (Nam Bộ) |
Kịch múa cổ điển Robam, truyền thuyết nàng Moni Mekhala |
CHƯƠNG 4: MÚA DÂN GIAN ĐƯƠNG ĐẠI: TẠO DỰNG BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
Chương 4 tổng hợp và nâng tầm lý luận từ các phân tích thực nghiệm ở chương 3, làm rõ ba luận điểm chính:
- Bản sắc có chọn lọc trong các tác phẩm: Các biên đạo không sao chép nguyên xi múa dân gian trong môi trường diễn xướng nguyên hợp mà tiến hành chọn lọc, cách điệu hóa các yếu tố tiêu biểu (động tác lao động, sinh hoạt tín ngưỡng, nhạc cụ, trang phục đặc trưng) để đưa lên sân khấu.
- Các yếu tố hiện đại được biên đạo lựa chọn: Việc kết hợp kỹ thuật múa ballet cổ điển phương Tây, ngôn ngữ múa đương đại (giải phóng hình thể, tiếp xúc sàn), cùng công nghệ âm thanh, ánh sáng, thiết kế mỹ thuật sân khấu hiện đại nhằm gia tăng tính biểu cảm và kịch tính.
- Sự kiến tạo/tạo dựng bản sắc văn hóa trong bối cảnh hội nhập: Khẳng định múa dân gian đương đại là một phương thức biểu đạt nghệ thuật mà qua đó người nghệ sĩ chủ động tham gia vào tiến trình kiến tạo bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu chính sách văn hóa và nhu cầu thưởng thức của công chúng thời kỳ hội nhập.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học lý luận
- Đổi mới hướng tiếp cận trong nghiên cứu múa: Luận án thoát ly khỏi lối nghiên cứu miêu tả thuần túy về kỹ thuật động tác hoặc lịch sử múa đơn thuần, xác lập cách tiếp cận liên ngành giữa văn hóa học, nhân học và xã hội học nghệ thuật. Luận án đặt múa trong mối tương quan hữu cơ với bối cảnh văn hóa, xã hội và chính trị nơi tác phẩm được sinh ra.
- Nghiên cứu trường hợp đầu tiên về múa dân gian đương đại dưới góc nhìn kiến tạo luận: Công trình là khảo cứu chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam vận dụng lý thuyết kiến tạo luận (Constructivism) để chứng minh rằng bản sắc văn hóa trong múa không phải là một thực thể tĩnh tại, đóng kín mà là một quá trình liên tục được kiến tạo, tái cấu trúc và bổ sung các giá trị mới thông qua lăng kính sáng tạo của biên đạo múa trước các đòi hỏi của thời kỳ hội nhập.
Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị
- Làm rõ phương thức xử lý mối quan hệ "Dân tộc" và "Hiện đại": Luận án chỉ ra cách thức các biên đạo xử lý chất liệu dân gian của 10 vùng miền/tộc người kết hợp với kỹ thuật múa ballet và múa đương đại, cung cấp cứ liệu thực tiễn cho việc đánh giá thực trạng sáng tác múa đương thời.
- Cung cấp cơ sở khoa học cho quản lý và đào tạo nghệ thuật: Kết quả nghiên cứu đóng góp tư liệu tham khảo cho các nhà quản lý văn hóa trong việc hoạch định chính sách, định hướng sáng tác biểu diễn; hỗ trợ các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp (như trường múa, viện nghiên cứu) trong việc xây dựng chương trình giảng dạy kết hợp giữa bảo tồn di sản múa cổ truyền và phát triển múa đương đại theo tinh thần Nghị quyết của Đảng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở 12 tác phẩm múa dân gian đương đại tiêu biểu thuộc 10 tộc người/vùng miền từ sau năm 1986 đến năm 2019. Do tính chất chọn mẫu định tính, nghiên cứu chưa thể bao quát toàn bộ diện mạo các sáng tác múa của tất cả 54 dân tộc anh em trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát sang các tác phẩm múa dân gian đương đại khai thác chất liệu của các nhóm tộc người thiểu số khác chưa được đề cập.
- Nghiên cứu sâu hơn về sự tiếp nhận của công chúng quốc tế đối với các tác phẩm múa dân gian đương đại Việt Nam khi lưu diễn ở nước ngoài dưới góc độ ngoại giao văn hóa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Xã hội học nghệ thuật, Lý luận và Lịch sử sân khấu/múa, Nghệ thuật học. Các chương phân tích về lý thuyết kiến tạo luận và tiếp cận xã hội học múa của Helen Thomas là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các đề tài liên ngành.
- Biên đạo múa, diễn viên, nghệ sĩ biểu diễn: Cung cấp góc nhìn lý luận về phương pháp khai thác chất liệu dân gian dân tộc và kết hợp kỹ thuật múa đương đại trong sáng tác thực hành.
- Nhà quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn để đánh giá việc triển khai đường lối xây dựng nền văn hóa "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thể loại "Múa dân gian đương đại" như thế nào?
Theo luận án, múa dân gian đương đại là các tác phẩm múa dân gian hoặc các tác phẩm múa được sáng tác bằng ngôn ngữ động tác múa đương đại nhưng có chủ đề, nội dung phản ánh về truyền thống, dân gian Việt Nam; được sáng tác trong xã hội đương đại thời kỳ mở cửa, hội nhập. Từ "đương đại" ở đây không chỉ dùng để chỉ ngôn ngữ động tác múa mà còn xác định thời điểm và bối cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm.
2. Tại sao luận án lựa chọn quan điểm Kiến tạo luận thay vì Bản thể luận khi nghiên cứu bản sắc?
Bản thể luận nhìn nhận bản sắc như một thực thể cố định, bất biến và có sẵn. Trong khi đó, kiến tạo luận nhìn nhận bản sắc như một quá trình vận động, biến đổi linh hoạt theo bối cảnh xã hội và mang tính diễn ngôn. Việc sử dụng kiến tạo luận cho phép tác giả giải thích được cách các biên đạo múa chủ động chọn lọc, biến đổi và sáng tạo các yếu tố truyền thống kết hợp với yếu tố hiện đại để tạo dựng nên bản sắc mới phù hợp với xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập.
3. Hướng tiếp cận xã hội học về múa của Helen Thomas được luận án vận dụng ra sao?
Luận án vận dụng mô hình phân tích hai chiều kích của Helen Thomas: xem xét chiều kích nội tại (intrinsic - ngôn ngữ động tác, âm nhạc, trang phục, đạo cụ, tuyến múa) gắn liền không tách rời với chiều kích ngoại tại (extrinsic - bối cảnh kinh tế thị trường, chính sách văn hóa của Đảng, quan hệ đối ngoại và tâm lý xã hội sau Đổi mới), từ đó lý giải ý nghĩa văn hóa - xã hội của tác phẩm.
4. Mẫu khảo sát định tính của luận án gồm những tác phẩm và nhóm đối tượng nào?
Luận án khảo sát 12 tác phẩm tiêu biểu phản ánh văn hóa của 10 tộc người/vùng miền (Kinh, Thái, Mường, Cao Lan, Dao, Chăm, Khmer). Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn sâu 12 biên đạo của 12 tác phẩm, hơn 10 cuộc thảo luận nhóm tại 10 tỉnh/thành phố, cùng các phỏng vấn sâu với 5 nhóm đối tượng: nghệ sĩ/biên đạo đã về hưu, biên đạo thế hệ 7x-8x, nhà quản lý văn hóa, khán giả trong ngành múa và khán giả ngoài ngành.
5. Nghị quyết nào của Đảng được xem là "kim chỉ nam" cho định hướng sáng tác được phân tích trong luận án?
Luận án chỉ rõ Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa VII (tháng 1/1993) với tinh thần "hội nhập nhưng không hòa tan", xây dựng nền văn hóa "tiên tiến" nhưng phải "đậm đà bản sắc" là định hướng cốt lõi cho các hoạt động nghệ thuật biểu diễn sau Đổi mới, tiếp tục được hoàn thiện qua các kỳ Đại hội Đảng và Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (2014).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thu Hằng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật múa dân gian đương đại Việt Nam từ góc độ Văn hóa học và Xã hội học nghệ thuật. Bằng việc vận dụng lý thuyết kiến tạo luận kết hợp với khung phân tích xã hội học múa của Helen Thomas và phương pháp điền dã định tính trên 12 tác phẩm tiêu biểu thuộc 10 tộc người, tác giả đã làm sáng tỏ cơ chế kết hợp giữa ngôn ngữ múa truyền thống và kỹ thuật hiện đại. Công trình chứng minh múa dân gian đương đại chính là một không gian thực hành nghệ thuật nơi bản sắc văn hóa dân tộc liên tục được tạo dựng, thích ứng và khẳng định trong tiến trình Đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam.