Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2: Xã hội Việt Nam sau đổi mới và vấn đề bản sắc văn hoá quốc gia, tộc người Chương 3: Bản sắc văn hoá quốc gia, tộc người trong một số tác phẩm múa dân gian đương đại tiêu biểu Chương 4: Múa dân gian đương đại: Tạo dựng bản sắc quốc gia, tộc người trong bối cảnh hội nhập 13 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về múa và múa dân gian đương đại Việt Nam Múa dân gian và múa dân gian đương đại thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của không chỉ giới chuyên môn mà còn là đề tài dành được sự quan tâm chú ý của ngành nghiên cứu văn hoá là bởi vì: Từ khi Việt Nam chính thức mở cửa hội nhập, nghệ thuật thế giới du nhập vào Việt Nam với tốc độ “không kiểm soát” được, giới trẻ bao gồm cả những người theo học chuyên nghiệp, biên đạo, diễn viên đến những cá nhân, nhóm hoạt động tự do…có thêm nhiều cơ hội được quan sát, học hỏi qua nhiều kênh khác nhau về các thể loại nhảy múa trên toàn thế giới. Sự thâm nhập của các thể loại nghệ thuật nhảy múa mới mẻ này đã nhanh chóng trở nên chiếm ưu thế trên thị trường thưởng thức nghệ thuật trong nước.
Thể loại nghệ thuật dân gian truyền thống bị vắng bóng trên các sân khấu và những người trong giới bắt đầu lo ngại về sự mất đi của thể loại múa đã ra đời và ăn sâu trong đời sống văn hoá cộng đồng mỗi dân tộc Việt Nam. Điều này cũng nằm trong sự lo ngại chung của toàn dân tộc về sự “cào bằng” văn hoá hay “mất bản sắc” dân tộc. Tâm lý sợ đánh mất mình, sợ bị hoà tan trong thế giới toàn cầu hoá của Việt Nam hậu thuộc địa - một đất nước vừa thoát khỏi sự đô hộ của thực dân, luôn muốn khẳng định mình, xây dựng một quốc gia độc lập, có bản sắc riêng và không thể bị nhầm/trộn lẫn với bất kỳ quốc gia nào khác, đã trở thành nỗi ám ảnh và là nhiệm vụ của toàn ngành văn hoá trong đó có nghệ thuật. Vì lý do ấy, các nhà nghiên cứu, sưu tầm bắt đầu nhìn nhận múa và cụ thể là múa dân gian Việt Nam như một kho tàng văn hoá gắn với bản sắc dân tộc và cần được nhìn nhận lại giá trị của nó trong bối cảnh đương đại.
Các công trình nghiên cứu lần lượt ra đời, các cuộc hội thảo lớn nhỏ của ngành múa đã được tổ chức. Trong rất nhiều các nghiên cứu về múa đã cho thấy múa là một thành 14 tố văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc cần được gìn giữ và phát triển. Trong phần tổng thuật này NCS sẽ tập trung vào các công trình tiêu biểu nhất, có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu chính của đề tài luận án: Viết về lịch sử nghệ thuật múa, Lê Ngọc Canh là một trong những nhà nghiên cứu được nhiều người biết tới. Năm 2009, ông đã xuất bản cuốn sách Lịch sử nghệ thuật múa Việt Nam.
Đây có thể coi là một công trình nổi bật nhất của ông về chủ đề này; ở đây ông đã tổng kết lại lịch sử nghệ thuật múa dân gian Việt Nam gắn liền với tiến trình phát triển dân tộc. Ngoài ra, viết riêng về chủ đề múa dân gian của các dân tộc thiểu số, tác giả Lê Ngọc Canh còn có nhiều ấn phẩn khác như: Nghệ thuật múa người Mạ (2005); Nghệ thuật múa tộc người Châu Ro (2005) và Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam (1998). Các ấn phẩm trên là kết quả sưu tầm nghiên cứu của tác giả về kho tàng múa dân gian của các dân tộc thiểu số, nhằm bổ sung, hoàn thiện vào kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian các dân tộc Việt Nam. Đây cũng là sự đóng góp đầy tâm huyết của ông đối với công tác bảo tồn và gìn giữ nền nghệ thuật múa của Việt Nam thời kỳ hội nhập.
Đặc biệt tác phẩm Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam phản ánh cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật múa dân gian đặt trong mối quan hệ với thực hành văn hoá tín ngưỡng. Múa ở đây được coi là một thành tố văn hóa, và vì vậy mọi động tác, ngôn ngữ múa đều mang một ý nghĩa biểu tượng nào đó của văn hóa tộc người trong các bối cảnh cụ thể. Bên cạnh các nghiên cứu đã được công bố của Lê Ngọc Canh, các tác phẩm: Tìm hiểu về nghệ thuật múa Việt Nam (2001) và Nghệ thuật múa dân tộc Việt (1979) của Lâm Tô Lộc hay Múa dân gian trong tác phẩm múa chuyên nghiệp Việt Nam của Ứng Duy Thịnh (2006) cũng là những tác phẩm có đóng góp quan trọng, giúp hoàn thiện hơn nữa những khảo cứu mang tính thực tiễn về kho tàng múa dân gian của dân tộc và ý nghĩa của nghệ thuật múa trong đời sống đương đại. Các tác phẩm này phản ánh kết quả bước đầu và quan trọng về nghiên cứu sự phát triển của múa dân gian dân tộc.
Trong bối cảnh hội nhập đã 15 có sự tham gia mạnh mẽ của các thể loại múa mới, đặc biệt là múa ballet - cổ điển châu Âu. Đây cũng chính là tiền đề cho sự ra đời của hàng loạt các tác phẩm được sáng tác theo phong cách mới - dân gian kết hợp với hiện đại. Nhìn chung các tác phẩm đã công bố ở trên tập trung tìm hiểu về thể loại múa của dân tộc và kho tàng nghệ thuật múa của dân tộc đó với các đặc trưng về ngôn ngữ động tác, văn hóa nghệ thuật vùng miền, tuyến múa và phong cách thể hiện. Các tác phẩm này, trên thực tế, đã được sử dụng làm cơ sở cho việc biên soạn và chỉnh lý giáo trình múa dân gian dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đào tạo diễn viên, biên đạo múa.
Chúng đồng thời cũng gợi mở cho các nghiên cứu về múa sau này có cơ sở lý luận nền tảng về hệ thống múa dân gian các dân tộc và là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo. Ở một khía cạnh nào đó, những nỗ lực, tìm tòi của các nhà nghiên cứu múa thời kỳ này cũng chính là quá trình đi tìm những biểu hiện đặc trưng mang tính bản sắc của ngôn ngữ múa dân gian ở từng tộc người cụ thể, điều đó cho phép biên đạo nhận diện các thành tố ngôn ngữ múa thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc/tộc người và đưa vào trong các tác phẩm múa dân gian đương đại. Múa và vấn đề tính dân tộc, hiện đại trong tác phẩm Nghệ thuật múa nói chung và múa dân gian dân tộc Việt Nam nói riêng hiện nay đang được rất nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật và nghiên cứu văn hóa quan tâm. Sự phát triển của nghệ thuật múa đặt trong bối cảnh của sự phát triển văn hóa có sự giao lưu hội nhập với nghệ thuật thế giới, đặt trong những chính sách để gìn giữ và phát huy bản sắc.
Dòng chảy của nghệ thuật đương đại các nước du nhập vào Việt Nam và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Trước tình hình đó, giới nghệ sỹ múa cũng đã thể hiện tiếng nói, suy nghĩ của mình về sự phát triển của nghệ thuật múa dân gian Việt Nam bằng các bài viết, bài tham luận, bài báo và bài phát biểu tại các hội thảo chuyên ngành. Năm 1993, Bộ Văn hóa Thông tin và Viện Âm nhạc và Múa đã xuất bản cuốn Những vấn đề dân tộc hiện đại trong nghệ thuật múa, tập trung 26 16 bài viết của các tác giả là nghệ sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu tú, biên đạo, diễn viên múa, nhạc sĩ và họa sĩ. Nội dung của cuốn sách xoay quanh câu hỏi: nên phát triển múa như thế nào trong thời đại hội nhập để không đánh mất bản sắc dân tộc? Tính dân tộc và hiện đại là hai thuật ngữ được sử dụng chính trong tất cả các bài viết, thể hiện sự tìm tòi, quan điểm của các nghệ sĩ trước vấn đề xác định tính dân tộc, bản sắc dân tộc trong múa.
Một số bài viết nổi bật là: Bàn về truyền thống và phát triển nghệ thuật múa Việt Nam của Lê Ngọc Canh; Tính dân tộc hiện đại trong múa của Lâm Tô Lộc; Dân tộc hiện đại, một định hướng cho sự bảo tồn và phát triển nghệ thuật múa Việt Nam của Vũ Đức Thoàn; Vài suy nghĩ về gìn giữ phát triển nghệ thuật múa của Ngọc Cường; Vị trí của di sản múa dân tộc trong nghệ thuật múa dân tộc hiện đại của Hoàng Hà; và Hướng về cội nguồn - xây dựng một nền nghệ thuật múa đậm đà bản sắc dân tộc của Trương Lê Giáp. Một số luận điểm về tính dân tộc cũng được đặc biệt đề cập trong các bài tham luận chẳng hạn: Trong bài “Dân tộc hiện đại, một định hướng cho sự bảo tồn và phát triển nghệ thuật múa Việt Nam”, Vũ Đức Thoàn nhận định, “trong nghệ thuật múa, tính dân tộc được biểu hiện trong nội dung và hình thức của tác phẩm. Đó là sự thể hiện bản sắc dân tộc và những yếu tố tinh thần của dân tộc. Tác giả cho rằng tính dân tộc hay bản sắc dân tộc Việt Nam nằm ở tính cách, cốt cách của con người Việt Nam đã được minh chứng trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta như: bền bỉ, cần cù, cứng cỏi, anh hùng, không chịu khuất phục…; cũng trong bài viết này tác giả viết: “Giữ gìn bản sắc dân tộc có nghĩa là chúng ta giữ gìn cái tinh hoa, cốt cách của dân tộc và phải biết gắn cái tinh hoa ấy với sự tiếp thu tinh hoa của thế giới, của nhân loại.
Có như thế mới có thể đưa nền nghệ thuật múa dân tộc của ta ngang tầm thời đại, ngang tầm thế giới” (Tr:68). Khác với quan điểm vừa nêu, tác giả Lê Ngọc Canh, trong bài viết Bàn về truyền thống và phát triển nghệ thuật múa Việt Nam lại chia sự phát triển 17 của nghệ thuật múa Việt Nam thành ba kiểu dạng: Một là, Múa dân gian; Hai là, Múa sáng tác trên chất liệu múa dân gian và thứ ba là Múa mới. Tác giả viết về kiểu dạng thứ ba như sau: “Có những biên đạo say sưa với kiểu dạng này, với khái niệm là mốt, là mới, là dân tộc, hiện đại và cũng bỏ ra khá nhiều công sức, sáng tạo để hiện lên một hướng mới, kiểu mới. Song không mấy tác phẩm thành công… dấu ấn của múa truyền thống dân tộc khá mờ nhạt và thật khó tìm…” (Tr:7-8).