CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HOÁ VÀ TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC LÔ LÔ (VIỆT NAM), DÂN TỘC DI (TRUNG QUỐC) 1. Những vấn đề lý luận chung về bảo tồn và phát huy di sản văn hoá 1. Một số khái niệm về văn hóa và di sản văn hóa Văn hoá Văn hóa là nhân bản hóa, tức là tất cả những gì con người làm ra thông qua tư duy.
Nói một cách cụ thể, văn hóa là sự tác động và biến đổi không ngừng do quá trình phát triển không ngừng của con người tạo ra đối với thế giới vật chất bên ngoài và thế giới tinh thần của chính họ. Mặc dù con người cũng là động vật, nhưng họ là động vật duy nhất có khả năng suy nghĩ lâu dài. Với năng lực tư duy này, con người có thể biến đổi (và thích ứng) tự nhiên, điều chỉnh (và sáng tạo) xã hội, dấu vết của sự biến đổi và điều chỉnh này được biểu hiện thành những thành tựu văn hóa của con người trong thế giới bên ngoài của họ; đồng thời, năng lực tư duy lâu dài của con người cũng bị loại hành vi này biến đổi, hình thành nên những thành tựu văn hóa tinh thần độc đáo của loài người. Có thể hiểu định nghĩa về Di sản văn hoá qua một số khái niệm sau: Theo Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor định nghĩa về Văn hoá năm 1998 khẳng định: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.23] Theo Hồ Chí Minh vào năm 1943, trong phần cuối bản thảo cuốn Nhật ký trong tù đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.431] 10 Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử". [13] Tuy chưa có một định nghĩa chính xác về văn hóa, nhưng có thể hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa là tổng hợp những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra; theo nghĩa hẹp, văn hóa là ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật và toàn bộ những sản phẩm tinh thần trong đó có hệ tư tưởng.
Văn hoá có các đặc trưng dưới đây: Tính phổ biến Tính phổ biến của văn hóa thể hiện ở hình thái văn hóa chung trong hoạt động thực tiễn xã hội, đặc điểm của nó là ý thức và hành vi của các dân tộc khác nhau có một khuôn mẫu chung và giống nhau. Những lý tưởng cao cả của văn hóa thế giới từ xa xưa đã làm cho văn hóa có thể vượt qua biên giới và biên giới quốc gia. Nhiều lĩnh vực văn hóa như triết học, đạo đức, văn học, nghệ thuật và giáo dục không chỉ chứa đựng nội dung giai cấp mà còn chứa đựng những nguyên tắc phổ biến chung cho cả nhân loại. Những nguyên tắc này đã góp phần tạo nên sự gần gũi của nhân dân cả nước và sự giao thoa lẫn nhau giữa các nền văn hóa của các dân tộc.
Hiện nay, với sự phổ biến nhanh chóng của công nghệ cao và quá trình toàn cầu hóa kinh tế diễn ra nhanh chóng, khoảng cách về lối sống của các dân tộc đang dần bị thu hẹp, các đặc điểm văn hóa đặc sắc của từng vùng đang dần tan biến, đặc điểm dân tộc bị phai nhạt, và văn hóa của toàn thế giới đang trở nên phổ biến hơn. Tính đa dạng Những điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội khác nhau đã hình thành nên các loại hình văn hóa, mô hình văn hóa khác nhau, làm cho nền văn hóa thế giới trong một chỉnh thể mang đặc trưng của sự đa dạng. Nền văn hóa của các dân tộc đều có những nét đặc trưng riêng, không thể thay thế cho nhau, là tài sản chung của toàn nhân loại. Bất kỳ dân tộc nào, dù là dân tộc nhỏ nhất, nếu những thành tựu văn hóa của họ bị hủy hoại, thì đó sẽ là sự tổn thất của toàn bộ nền văn hóa nhân loại.
11 Tính dân tộc Văn hóa luôn bắt nguồn từ dân tộc và sống chung với sự phát triển của một dân tộc. Một dân tộc có nền văn hóa riêng của mình, và các dân tộc khác nhau có nền văn hóa dân tộc khác nhau. Văn hóa dân tộc là một trong những hình thức biểu hiện của dân tộc, đó là sự sáng tạo và phát triển tự nhiên của các dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử lâu dài, các văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc. Văn hóa dân tộc vô cùng phong phú về nội hàm và đa dạng về hình thức.
Thông thường, trình độ sức sản xuất xã hội càng cao, lịch sử của một dân tộc càng lâu dài thì nội hàm văn hóa càng phong phú, tinh thần văn hóa càng mạnh mẽ và do đó, tính dân tộc càng nổi bật, sáng rõ. Ví dụ, Hoa Kỳ rất chú trọng đến tầm quan trọng của các cá nhân và là một quốc gia có chủ nghĩa cá nhân cao. Đồng thời, Hoa Kỳ cũng là một quốc gia rất thực dụng, nhấn mạnh lợi nhuận, hiệu quả tổ chức và hiệu quả sản xuất. Nó đánh giá cao sự lãnh đạo dân chủ và hướng về việc tham gia và ra quyết định tập thể.
Nó có khả năng chịu đựng rủi ro cao và có xu hướng tránh né sự không chắc chắn với mức độ thấp. Văn hóa Nhật Bản mang đậm màu sắc văn hóa phương Đông, với tinh thần quên mình và cống hiến toàn diện. Nó tập trung vào các mối quan hệ giữa các cá nhân và có ý thức mạnh mẽ về gia đình và quan niệm thứ bậc. Văn hóa Nhật Bản cũng có năng lực bao trùm để tiếp nhận nền văn hóa xuất sắc và tinh thần lý trí mạnh mẽ.
Đặc điểm tiêu biểu của văn hóa Anh là chủ nghĩa hiện thực, trong văn hóa Pháp là tôn trọng lý tính, điều này khiến người Anh coi trọng kinh nghiệm, duy trì truyền thống và thực dụng, người Pháp thích tượng trưng cho cá tính, phong cách của con người và phản ánh tư tưởng tinh thần của con người. Tính kế thừa Con người sinh sôi nẩy nở, phát triển tiến lên thì văn hóa cũng không ngừng được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tính kế thừa là nền tảng của văn hóa, không có kế thừa thì không có văn hóa. Trong quá trình lịch sử phát triển của văn hóa, khi mỗi giai đoạn mới phủ nhận giai đoạn trước, phải tiếp thu tất cả nội dung tiến bộ của nó, và tất cả những thành tựu nổi bật của loài người trước đây.
Tính phát triển 12 Về bản chất, văn hoá là không ngừng phát triển. Các học gia tiến hoá luận nhân chủng học ở thế kỷ 19 cho rằng văn hóa loài người tiến hóa từ cấp thấp lên cấp cao, từ đơn giản đến phức tạp. Từ những ngày đầu nguyên thuỷ cho đến cuộc sống thời thượng ngày nay, từ việc đốt rẫy gieo hạt cho đến tự động hóa và thông tin hóa ngày nay, tất cả đều là kết quả của sự phát triển văn hóa. Nếu không có sự phát triển của văn hóa thì loài người vẫn là anh em họ với loài vượn, sẽ không có xã hội hiện đại và nền văn minh hiện đại.
Trường phái chức năng do Malinowski đại diện tin rằng quá trình văn hóa là sự thay đổi văn hóa. Sự thay đổi văn hóa là quá trình mà trật tự xã hội hiện có, bao gồm quá trình thay đổi ít nhiều của các tổ chức, tín ngưỡng, kiến thức, mục đích của các công cụ và người tiêu dùng. Nói chung, văn hóa ổn định là tương đối, thay đổi và phát triển là tuyệt đối. Tính thời đại Trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại, mỗi thời đại đều có những loại hình văn hóa tiêu biểu.
Ví dụ, các nền văn hóa của thời kỳ đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại đồ sắt, thời đại động cơ hơi nước, thời đại điện lực và thời đại thông tin được đánh dấu bằng năng suất và trình độ khoa học kỹ thuật. Ví dụ khác, với tư cách là một phần không thể thiếu của văn hóa, Phúc, Thơ, Từ và Khúc đã trở thành những phong cách văn học tiêu biểu nhất của các triều đại Hán, Đường, Tống và Nguyên ở đất nước Trung Quốc. Sự thay đổi của thời đại tất yếu sẽ kéo theo sự biến đổi của các loại hình văn hóa, loại hình mới sẽ thay thế loại hình cũ. Nhưng điều này không phủ nhận tính kế thừa của văn hóa, cũng không có nghĩa là sự phát triển văn hóa với tư cách là một hệ thống hoàn chỉnh bị phá vỡ.
Ngược lại, mỗi thời đại tiến hóa mới của loài người đều phải kế thừa những thành tựu văn hóa xuất sắc của tiền nhân và kết hợp chúng vào hệ thống xã hội của mình, đồng thời, sáng tạo ra những loại hình văn hóa mới như một nét đặc trưng của thời đại này. Văn hóa là một khái niệm rất rộng, để phân biệt rõ hơn người ta chia văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa phi vật chất. Cái gọi là văn hóa vật chất dùng để chỉ quá trình vật chất và sản phẩm vật chất ngưng tụ, thể hiện và ký thác phong cách 13 sống, trạng thái sống, tư tưởng và tình cảm của con người; cái gọi là văn hóa phi vật chất là chỉ ngôi nhà tinh thần của con người.