Mở đầu. - Phần 1: Tổng quan nghiên cứu. - Phần 2: Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng. - Phần 3: Kết quả và biện luận.
10 PHẦN I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tháp Chàm Mỹ Sơn và thực trạng hiện nay. Giới thiệu về tháp Chàm Mỹ Sơn Một trong những công trình kiến trúc đặc biệt có giá tr nổi bật của dân tộc Chăm (hay còn gọi là tháp Chàm) đã được UNESCO công nhận Di sản Văn ha Thế giới vào tháng 12 năm 1999 là thánh đa Mỹ Sơn. Cùng với thánh đa Mỹ Sơn, ở Việt Nam có hàng loạt các tháp Chăm được xây dựng rải rác từ Thừa Thiên Huế trở vào Nam.
Các tháp Chăm đã phản ánh sinh động tiến trình phát triển của lch sử văn ha và nền văn minh Champa trong lch sử Đông Nam Á. Hầu hết các tháp Chăm ở Việt Nam đều được các vua Chăm xây dựng để dâng cúng cho các v thần bảo hộ vương triều. Mỗi một triều đại đều xây dựng tháp theo một phong cách nghệ thuật riêng nên nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Chăm cũng phát triển theo từng giai đoạn lch sử và tạo nên những phong cách nghệ thuật khác nhau. Các đền tháp Champa được xây dựng kéo dài từ cuối thế kỷ 7 đến đầu thế kỷ 17.
Tháp được xây bằng gạch nung màu đỏ sẫm lấy từ đất đa phương, phía trên mở rộng và thon vút hình bông hoa. Mặt bằng tháp đa số là hình vuông có không gian bên trong chật hẹp, thường có cửa duy nhất mở về hướng Đông (hướng mặt trời mọc). Trần được cấu tạo vòm cuốn, trong lòng tháp đặt một bệ thờ thần bằng đá. Nghệ thuật chạm khắc, đẽo gọt công phu hình hoa lá, chim muông, vũ nữ, thần thánh thể hiện trên mặt tường ngoài của tháp.
Các tháp Chăm hiện còn, tuy chỉ là những công trình c kích thước vừa và nhỏ, nhưng đã chắt lọc được những tinh hoa của người nghệ sĩ nhằm thể hiện tín ngưỡng của các triều đại Champa, kết hợp giữa kỹ thuật, kiến trúc và nghệ thuật trang trí, người Chăm xưa đã tạo cho các đền tháp một vẻ uy nghiêm và kỳ bí. 11 Việc thất truyền kỹ thuật xây dựng tháp Chăm đã dẫn đến không ít kh khăn trong công tác trùng tu tôn tạo di tích Chăm trong những năm qua. Đã c rất nhiều giả thuyết về chất kết dính, về kỹ thuật sản xuất gạch nhưng vẫn chưa c giả thuyết nào được các nhà khoa học chấp nhận là c cơ sở đáng tin cậy nhất. Thực trạng hiện nay Quá trình phát hiện: Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.
Hai năm sau, 2 nhà nghiên cứu của Viện Viễn đông Bác cổ là L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho đến những năm 1903 - 1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố. Mỹ Sơn đã được trùng tu bởi E.O (Ecole Francaise d’Extreme Orient) trong thời gian từ 1937 đến 1944.
Năm 1937, các nhà khoa học Pháp bắt đầu có những công cuộc trùng tu tại Mỹ Sơn. Năm 1937-1938, ngôi đền A1 và các ngôi đền nhỏ xung quanh n được trùng tu. Các năm sau, từ 1939 đến 1943, các tháp B5, B4, C2, C3, D1, D2 được trùng tu và gia cố lại. Năm 1939, nhằm để nghiên cứu các di tích của nhóm A, B, C, D khỏi sự phá huỷ của dòng nước (đã phá sập tháp A9), người Pháp đã cho xây một con đập và đào một dòng chảy xuyên núi để đổi hướng dòng chảy.
Nhưng năm 1946, sau một trận lũ lớn, con đập này đã b vỡ, nước chảy trở lai theo dòng cũ. Mỹ Sơn c một giai đoạn yên lắng từ năm 1954 đến 1964. Khi đ, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chưa đến giai đoạn khốc liệt. Nhưng từ năm 1965 đến 1972, khi khu vực Duy Xuyên và Quảng Nam trở thành một chiến trường.
Đền tháp M ỹ Sơn cũng b thiệt hại cùng với xm làng mà n đã mang tên. Nặng nề nhất là trận bom năm 1969 đã làm biến dạng hình hài của khu di tích. Hầu hết các đền tháp đã b sụp đổ hoặc hư hại nặng nề. Sau chiến tranh, để phục vụ cho công cuộc nghiên cứu, phục hồi di tích, chúng ta đã tiến hành rà phá bom mìn còn lại ở khu vực này.
M ỹ Sơn sau chiến tranh là sự ngổn ngang gạch đổ, cần sự trợ giúp của nhiều người. Đến năm 1975, trong số 32 di tích còn lại, chỉ có khoảng 20 đền, tháp còn giữ được dáng vẻ ban đầu. Năm 1980, trong chương trình hợp tác văn hoá Việt Nam - Ba Lan, tiểu 12 ban phục hồi di tích Chămpa được thành lập do cố kiến trúc sư Kazimiers Kwiat Kowski (1944- 1997) phụ trách. Từ 1981 đến 1985, các đền tháp nhóm B, C, D được dọn dẹp và gia cố, hàng ngàn mét khối gạch vỡ, đất đá được đưa ra khỏi khu vực và sắp xếp lại.
Nhờ vậy mà khu vực đền tháp này c được dáng vẻ như ngày hôm nay. Sau đ, một phần nhm A được dọn dẹp và gia cố. Mỹ Sơn hiện nay vẫn còn rất nhiều việc để làm nhưng được như hôm nay là công sức của những con người của những năm 1980 đầy kh khăn. Để tiếp tục công việc bảo tồn di tích, năm 1995, Ban quản lý Di tích Mỹ Sơn đã được thành lập.
Ban đã phối hợp với Trung tâm thiết kế và tu bổ di tích Trung ương thiết lập các dự án tu bổ cấp thiết từng cụm di tích trên cơ sở quy hoạch toàn vùng. Nổi bật nhất trong những năm 1998-1999, Ban đã hoàn thành được hồ sơ để trình UNESCO công nhận Mỹ Sơn là Di sản Thế giới. Sau nhiều năm trùng tu và bảo vệ, Mỹ Sơn và tất cả các tháp Chăm tại Việt Nam đang ở trong tình trạng sập đổ nhưng không c phương án trùng tu nào hiệu quả. Hàng chục công trình nghiên cứu về chất liệu gạch xây tháp Chăm đã được công bố để rồi lại thất bại.
Các loại gạch Chăm mới đưa vào trùng tu đều không hiệu quả. Sau hơn 100 năm, kể từ ngày các nhà khảo cổ, nghiên cứu văn ha người Pháp tiến hành trùng tu ngôi đền A1 Mỹ Sơn, đến nay ngành bảo tồn bảo tàng nước ta vẫn chưa thống nhất, xác đnh được phương pháp và chuẩn mực phù hợp trong công tác bảo tồn, trùng tu di tích. Tiếp đ, theo thoả thuận của ba bên Việt Nam, UNESCO và Chính phủ Italia, Ban quản lý Di tích Mỹ Sơn hợp tác với đoàn chuyên gia Italia nghiên cứu toàn diện về Mỹ Sơn. Từ đ, đã vẽ được bản đồ thực trạng khu vực di tích.
Nhận đnh chung của các chuyên gia cho rằng: "Đối xử với di tích phải hết sức dè dặt, phải nghiên cứu kỹ về vật liệu xây dựng vì người xưa không chỉ để lại những giá tr mỹ thuật và lch sử mà còn có cả kỹ thuật vật liệu". Trong khi đ, hiện tại ở Mỹ Sơn, việc trùng tu, tôn tạo di sản này vẫn chỉ mới dừng lại ở các công việc khảo sát, khai quật, thu thập cứ liệu và. còn đang phải tiếp tục nghiên cứu tìm vật liệu, phương pháp trùng tu. Một số hình ảnh xuống cấp nghiêm trọng tại Mỹ Sơn 1.
Một số kếtquả nghiên cứu 1. Về chất kết dính Năm 1980, trong chương trình hợp tác văn ha Việt Nam - Ba Lan, tiểu ban phục hồi di tích Champa được thành lập do cố Kiến trúc Sư Kazik - Kazimierz Kwiatkowski (1944-1997) phụ trách. Từ năm 1981-1987, một số đền tháp Chăm ở Mỹ Sơn, tháp Dương Long (Bình Đnh), tháp Po Klaong Girai (Ninh Thuận). được gia cố, trùng tu.
Tuy nhiên, giải pháp kỹ thuật trùng tu tháp Chăm lúc bấy giờ là dùng những thanh sắt để gia cố tháp và dùng xi măng làm chất kết dính để phục hồi các mảng chân tháp b hỏng. Theo nghiên cứu của các chuyên gia Ba Lan trong quá trình trùng tu các tháp Chăm, họ đã sử dụng các phương pháp phân tích hiện đại như nhiễu xạ Rơngen, nhiệt vi phân, quan trắc phổ hồng ngoại. và cho biết không phát hiện ra dấu vết của chất hữu cơ trong chất kết dính gạch, chỉ phát hiện ra khóang thạch anh (SiO 2) và Ilit(có thể dạng aluminosilicat hoặc polysilicat) như các mẫu vữa lấy từ giữa 2 viên gạch. Vì vậy, họ đã kết luận: Tháp được xây từ những viên gạch nung sẵn gắn với nhau bằng một màng mỏng dung dịch đất sét đóng vai trò kết dính (vữa đất sét), sau đó toàn bộ được nung lại [11].
Trong năm 1999, theo thoả thuận ba bên Việt Nam - UNESCO - Italia, Ban Quản lý Di tích Mỹ Sơn hợp tác với đoàn chuyên gia Italia nghiên cứu toàn diện về các tháp Chăm ở Mỹ Sơn. "Các chuyên gia cho rằng việc đối xử với di tích phải hết sức dè dặt, phải nghiên cứu kỹ về vật liệu xây dựng vì người xưa không chỉ để lại những giá trị mỹ thuật và lịch sử mà còn cả kỹ thuật, vật liệu. Cho đến ngày hôm 14 nay, chúng ta vẫn chưa có được một kết luận khoa học mang tính đúng đắn và có khả năng ứng dụng. Viên gạch cổ nhẹ hơn gạch hiện tại cùng kích thước 1,3 lần.
Gạch được nung non hơn nhưng tính chất sức bền về vật liệu lại cao hơn. Đặc biệt, nếu nhìn mặt ngoài của bức tường đền tháp, chúng ta có cảm nhận là tường xây không cần vữa, nhưng gạch bị tách ra cho chúng ta thấy là có một lớp vữa mỏng. Các nhà phân tích châu Âu kết luận rằng thành phần của lớp vữa này là thành phần vô cơ không tạo kết dính” [14]. Quan điểm về chất kết dính của các chuyên gia Italia vào thời điểm này là thống nhất với quan điểm của các chuyên gia Ba Lan trước đây trong quá trình trùng tu các tháp Chăm vào những năm của thập niên 1980.
Tuy nhiên, vào cuối năm 2005, các chuyên chuyên gia Italia lại phát hiện ra dầu rái được sử dụng trong xây dựng tháp Chăm (dầu rái là nhựa của một loại cây mọc rất nhiều tại vùng rừng núi phía tây Quảng Nam và được cư dân đa phương sử dụng cho việc trám thuyền, trét vách làm nhà) và cũng từ đ dầu rái được sử dụng để trùng tu tháp Chăm Mỹ Sơn. Thế nhưng, các thử nghiệm cho thấy dầu rái không phải là đáp án cuối cùng, các viên gạch đã rời ra vào mùa mưa! Nếu khẳng đnh nhựa cây ô dước, bời lời.