CHƯƠNG 1.95 L → (Al) + Mg2Si + Al8Mg5 E1 449 32. Phản ứng đơn biến trong hệ Al-Mg-Si (Mondolfo, 1976) [5] Phản ứng Đƣờng ký hiệu hình Nhiệt độ T, oC 1.a L → (Al) + Mg2Si e2–E1 và e3–E2 595÷555 và 595÷449 L → (Al) + (Si) e 2 - E2 577÷555 L → (Al) + Al8Mg5 e 1 - E1 450÷449 Mặc dù khả năng tan vào nhôm rắn của Mg và Si tương đối thấp nhưng nó lại có tác dụng đáng kể trong việc tăng độ cứng hợp kim nhờ hình thành sự thay đổi pha Mg2Si siêu bền trong quá trình hóa già. So sánh dây dẫn hợp kim nhôm 6201 với các loại dây dẫn hợp kim nhôm khác So sánh ưu điểm của dây dẫn hợp kim nhôm AAAC với dây nhôm lõi thép (ACSR) [9] - Cơ tính cao hơn với cùng một khối lượng - Với kích thước tương đương dây ACSR, thì dây AAAC có điện trở thấp hơn và độ dẫn điện tốt hơn. - Vận chuyển và xử lý dễ dàng hơn trên đường truyền dây tải điện.
- Lắp ráp dễ dàng hơn, dễ dàng căng dây dẫn để tránh các yếu tố nguy hiểm từ mặt đất. - Độ cứng bề mặt dây dẫn cao hơn, do đó ít bị tổn thất, hao mòn và trầy xước trong quá trình đi đường dây. - Nối ghép dây dễ dàng hơn. - Chống ăn mòn tốt hơn: Đối với hệ thống dẫn điện điện thế siêu cao từ 275 đến 400kV, Jason và đồng nghiệp đã chỉ ra rằng cần phải thay thế bằng một loại LUẬN VĂN THẠC SĨ 7 HVTH: Phạm Thị Minh Trang NC chế tạo dây nhôm HK 6201 trong SX cáp điện CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN dây dẫn hợp kim nhôm đồng nhất để tránh ăn mòn giữa sắt và nhôm ở dây nhôm lõi thép.
- Giảm tổn thất phóng điện và giảm nhiễu sóng vô tuyến. - Giảm chi phí tiêu hao Sau đây là một ví dụ về tính toán tiêu hao chi phí cho một dây dẫn kép giữa dây ACSR Lynx và dây dẫn chuẩn AAAC thể hiện bảng 1. So sánh chi phí tổn thất điện ở dây ACSR và dây AAAC [9] Chỉ tiêu Dây ACSR Dây AAAC Dòng điện (I) 350A 350A o Điện trở ở 50 C (R) 0.102 Ω/Km Hệ số phụ tải (LF) 0.5 Tổn thất phụ tải (LLF) 0.2875 Tổn thất điện (PL) 6.59 kW/Km Chi phí cho tổn thất trên ₤2183 ₤1258 1 km dây dẫn Hudson cũng chỉ ra rằng, nơi điện thế cao 132kV ở Eastern, dây dẫn AAAC có những lợi thế so với dây ACSR là: - Tiết kiệm chi phí hàng năm là ₤21 620 (giá cả năm 1984) trên 23km với đường dây dẫn kép. - Tăng 40% truyền tải điện.
Với những đặc tính kỹ thuật và ưu điểm trên, hợp kim nhôm 6201 ứng dụng chủ yếu làm dây cáp điện dần dần thay thế cho dây dẫn nhôm lõi thép ở các vùng điện thế cao. Sau đây là một số bảng so sánh cơ tính và tính dẫn điện của hợp kim 6201 và các hợp kim nhôm dùng làm dây cáp điện, cũng như so sánh các loại dây hợp kim nhôm 6201 với các phương pháp sản xuất khác nhau thể hiện qua bảng 1. LUẬN VĂN THẠC SĨ 8 HVTH: Phạm Thị Minh Trang NC chế tạo dây nhôm HK 6201 trong SX cáp điện CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN Bảng 1. So sánh và phân loại tính chất của nhôm, một số hợp kim nhôm dùng làm dây cáp điện [17].
Hợp kim Giới hạn bền Bền kéo Độ dẫn dài Độ dẫn điện (MPa) (MPa) với thanh 250 (% IACS) mm (%) EC (99.65 Fe) Super T (Al- 109 129 25 61.22Cu) Nico (Al- 68 109 26 61. Giá trị độ bền kéo và độ dẫn điện cho dây điện 6201 trong sản xuất dây dẫn AAAC [13] Chỉ số Dây Al–Mg–Si Dây HC* Dây EHC* thông thƣờng Al–Mg–Si Al–Mg–Si Độ bền kéo cho phương pháp Min. 295 260 250 2 thông thường (N/mm ) Nhiệt độ xử lý nhiệt (ᵒC) 175 185-190 190-195 Thời gian giữ nhiệt, h 6 4 4 Độ dẫn điện (% IACS) Min.5 * Ghi chú: HC (high conductivity): dẫn điện cao EHC (extra high conductivity): dẫn điện siêu cao 1. CÔNG NGHỆ NẤU LUYỆN VÀ BIẾN TÍNH HỢP KIM 6201 Quá trình nấu chảy hợp kim 6201 thường xảy ra ở khoảng nhiệt độ 720÷750oC.
Do nhôm lỏng dễ bị oxy hóa, cần phải có trợ dung tạo lớp xỉ bao phủ bề mặt. Thành phần nguyên liệu silic, magie dễ cháy hao, khó đồng đều thành LUẬN VĂN THẠC SĨ 9 HVTH: Phạm Thị Minh Trang NC chế tạo dây nhôm HK 6201 trong SX cáp điện CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN phần và khống chế hàm lượng trong quá trình nấu, do vậy ta cần tạo hợp kim trung gian Al-Si, Al-Mg trước khi nấu hợp kim Al-Mg-Si (6201). Thông thường nấu luyện hợp kim nhôm ở nhiệt độ không cao, vì vậy ta có thể áp dụng nấu luyện hợp kim 6201 trong lò điện thông thường như lò cảm ứng, lò điện trở. Tuy nhiên sản phẩm thỏi đúc sau quá trình nấu luyện thường xuất hiện tổ chức hạt dạng thiên tích nhánh cây làm giảm đáng kể cơ tính hợp kim.
Do vậy cần cải thiện cơ tính của hợp kim Al-Mg-Si (6201) bằng cách biến tính cho hạt nhỏ mịn. Thông thường các tác giả chọn các hợp kim trung gian Al-B (như AlB1) hay hợp kim trung gian Al-B-Ti (như AlTi5B1). Người ta cấy mầm kết tinh bằng hợp kim trung gian Al-B vào hợp kim 6201 nóng chảy trong thùng trung gian với dây Ø9.5mm chứa 3% AlB2 nhằm giảm các nguyên tố Ti, Cr, Zr và V gây ảnh hưởng độ dẫn điện và làm nhỏ mịn hạt tinh thể của hợp kim. Cách này làm giảm thời gian hóa già và tăng biến cứng ở nhiệt độ thấp [13].
Ảnh hưởng của các nguyên tố lên độ dẫn điện của dây nhôm thể hiện bảng 1. Ảnh hưởng của các nguyên tố lên độ dẫn điện của dây nhôm [13]. Nguyên tố dρ/dc trong 10-4 Ω Nguyên tố dρ/dc trong 10-4 Ω mm2/m mm2/m Zr 454 Cu 31 Cr 421 B 13 V 333 Zn 10 Mn 307 Fe 9 Ti 259 Ni 5 Mg 56 Pb 2 Si 52 Sn 1 ρ: điện trở dòng điện, c: Hàm lượng nguyên tố theo % khối lượng LUẬN VĂN THẠC SĨ 10 HVTH: Phạm Thị Minh Trang NC chế tạo dây nhôm HK 6201 trong SX cáp điện CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN Độ dẫn điện m/Ω.mm2 Khối lượng Hình 1. Ảnh hưởng của lượng các nguyên tố tạp chất trong hợp kim lên độ dẫn điện của nhôm 99.
Hợp kim Al-Mg-Si có hàm lượng Mg, Si thấp làm tăng tính dẫn điện nhưng giảm độ bền. Tăng Fe hay Si từ 0.2÷2% làm giảm độ dẫn điện 10%. Crom, Mn và Ti, Va, Zr làm giảm rõ rệt độ dẫn điện và thêm AlB2 thụ động hóa các nguyên tố trên thành borit hạt mịn. Phương pháp cũ dùng borax (Na2B4O7), hay B2O3 thêm vào trong bể điện phân nhôm hay KBF4 thêm vào lò nấu chảy hợp kim, điều này dễ tạo khí thải độc hại và muối dư KAlF4 trong lò.
Hợp kim Al-B được dùng để loại bỏ các tác nhân ô nhiễm, tạp chất của phương pháp trên, đồng thời điều khiển hàm lượng Bo thêm vào trong nhôm phù hợp. Hợp kim Al-B thường tạo những hợp chất liên kim AlB2 (thể hiện hình 1. Theo tính toán người ta thường dùng từ 3÷5% hợp kim Al-B bỏ vào nồi chứa hợp kim nhôm nóng chảy [13]. LUẬN VĂN THẠC SĨ 11 HVTH: Phạm Thị Minh Trang NC chế tạo dây nhôm HK 6201 trong SX cáp điện CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN Hình 1.
Cấu trúc Pha AlB2 trong nền hợp kim Al-B [13]. Thông thường người ta thêm 0.052% là vượt quá cần thiết đối với lượng Ti, V và Cr 0. Trong hợp kim trung gian AlB1 chỉ có chất tạo mầm là borit nhôm AlB2. Tondel tìm thấy mối quan hệ định hướng với độ sai lệch chừng 3.
Tuy nhiên, AlB2 phản ứng với các tạp chất kim loại chuyển tiếp trong nhôm như Ti, V, Cr, Zr tạo thành các điborit TiB2, VB2, CrB2, ZrB2 không tan trong nhôm, có tỷ trọng lớn hơn nhôm, có xu hướng lắng xuống đáy nồi nên hiệu quả làm nhỏ hạt không cao. Ngoài ra, khi biến tính với vật liệu chứa tạp chất cacbon, titan và vanadi còn tạo ra điborit phức của titan và vanađi có kích thước lớn làm giảm hiệu quả biến tính [10]. Chính vì vậy mà hiệu quả làm nhỏ hạt của hợp kim trung gian AlB1 đối với hợp kim 6201 không cao, ngay cả với nồng độ bo đưa vào kim loại lỏng lớn hơn so với nồng độ cùng tinh (0.22%) trong hệ hợp kim Al–B. Đó là nồng độ mà nhiều tác giả cho rằng sẽ xảy ra phản ứng cùng tinh ở 659.5oC: L → AlB2 + Al(r) để tạo ra mầm kết tinh Al(r) [19].
LUẬN VĂN THẠC SĨ 12 HVTH: Phạm Thị Minh Trang NC chế tạo dây nhôm HK 6201 trong SX cáp điện CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN Hợp kim trung gian AlTi5B1 chứa các pha TiAl3 và TiB2. Do độ sai lệch nhỏ giữa khoảng cách các nguyên tử của TiAl3 và α–Al nên TiAl3 là chất tạo mầm tốt. Hơn nữa, khi nồng độ titan lớn hơn nồng độ bao tinh (0.15% Ti) của hệ hợp kim Al–Ti, TiAl3 tạo mầm kết tinh theo phản ứng bao tinh: L + TiAl3 → α– Al. Tuy nhiên, khi nồng độ titan trong nhôm nhỏ hơn nồng độ bao tinh, TiAl3 bị hòa tan làm cho hiệu quả tạo mầm của TiAl3 giảm đi.
Johnsson và Backerud tìm thấy rằng có một sự sai lệch nhỏ chỉ cỡ 4.3% giữa α–Al và TiB2 ở các mặt (111)Al và (001)TiB2, các phương [110]Al và [110]TiB2, do đó TiB2 phải là chất tạo mầm tốt. Hiện nay, có nhiều thuyết giải thích cơ chế làm nhỏ hạt của hợp kim trung AlTi5B1, ví dụ, thuyết giản đồ pha cho rằng việc làm nhỏ mịn hạt tinh thể là do phản ứng bao tinh trên các phần tử sơ cấp TiAl3. Thuyết này cho rằng việc cho thêm nguyên tố Bo gây ra sự dịch chuyển điểm bao tinh về phía nồng độ thấp (theo Marcantonio, Mondolfo và các tác giả khác là 0,05% Ti). Điều này cho phép TiAl3 ổn định ở nồng độ thấp và đó là lý của việc làm nhỏ mịn hạt tinh thể.
Còn theo thuyết của mô hình chất tan, TiB2 là chất tạo mầm tốt khi có titan đóng vai trò của chất tan. Titan là chất tan có khả năng thiên tích mạnh, tích tụ ở phía trước bề mặt phân cách rắn –lỏng tạo ra vùng quá nguội trạng thái ở phía trước của bề mặt đang phát triển. Vùng quá nguội trạng thái này kích hoạt các chất tạo mầm ở phía trước mặt phân cách và làm gián đoạn sự phát triển của các hạt có trước [14].