Chương 1 KHÁI QUAT VE BAO TON VÀ PHÁT HUY GIÁ TRI DI TÍCH LICH SỬ - VĂN HOA VA TONG QUAN VE ĐÌNH - CHUA THƯỢNG DONG 1. Khai quat vé van dé bao ton, phat huy gia tri di tich 1. Thao tác hóa khái niệm - Di sản văn hóa Ở Việt Nam, di sản văn hóa được nói rõ trong Điều 1, Luật Di sản văn hóa: “Di sản văn hóa bao gom di sản văn hóa phi vật thé và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh than, vật chất có giả trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyễn từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. [43] Theo đó, đình - chùa Thượng Đồng là một di tích gồm hai công trình chính là đình và chùa có tính liên kết với nhau về mặt quy hoạch, do con người xây dựng, có kết hợp với các yếu tố cảnh quan thiên nhiên.
Cũng như căn cứ thêm vào khái niệm của công ước và sự đối chiếu của việc phân loại các nhóm loại hình có thể xếp di tích đình - chùa Thượng Đồng vào nhóm công trình xây dựng. Từ nhận thức trên, di sản văn hóa có những đặc điểm như sau: Thứ nhất là sự tiêu biéu đối với nền văn hóa của một quốc gia, một dân tộc. Việt Nam là một quốc gia CÓ bề dày lịch sử, song hành với quá trình phát triển của lịch sử phải ké đến các yếu tố văn hóa như tôn giáo, tín ngưỡng đi kèm với nó là các công trình thờ phụng mà phan lớn và tiêu biểu là đình, chùa như một đại diện của làng quê Việt Nam “Cây đa, giếng nước, sân đình”. Và di tích đình - chùa Thượng Đồng chứa đựng trong đó tính đại diện của làng quê Phúc Lợi từ những thứ hữu hình như đình, chùa đến những thứ vô hình như lễ hội.
! Luật của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam số 28/2001/QH10 về di sản văn hoá 13 Thứ hai là đặc trưng của di sản ở từng thời kỳ lịch sử nhất định. Đình - chùa Thượng Đồng là di tích đã hình thành từ rất lâu đời và trải qua nhiều triều đại cũng như các biến cố của lịch sử. Thời phong kiến, di tích có các hiện vật mang đặc trưng của thời Lê Trung Hưng, Tây Sơn, Nguyễn như sắc phong, hoành phi - câu đối, tượng pháp. Đến thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, di tích trở thành nơi tập trung kháng chiến, góp phần làm nên chiến thăng của dân tộc.
Thứ ba là quá trình lưu truyền giữa các thế hệ. Để một dân tộc tôn tại và phát triển, một trong những yếu tố không thé thiếu là tinh than dân tộc. Tình thần này phần lớn đến từ việc lưu truyền những giá trị văn hóa về vật chất và tinh thần từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tại di tích đình - chia Thượng Đồng, dù qua nhiều thăng trầm của lịch sử vẫn còn lưu giữ được những hiện vật có giá trị từ hàng trăm năm trước cùng với những câu chuyện truyền miệng về thành hoàng làng như dé củng cố thêm niềm tin, thêm sức mạnh trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các thé hệ nơi đây.
Thứ tư là sự thay đổi của di tích trước thời đại. Với xu hướng hội nhập quốc tế, việc con người cần thay đôi dé phù hợp với thời đại ít nhiều đều tác động đến di tích. Di tích đình - chùa Thượng Đồng cũng không ngoại lệ, sự thay đổi của thời đại ảnh hưởng lớn việc quy hoạch đến bảo tồn và công tác quản lý di tích tại day. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý văn hóa phải có chính sách và giải pháp đề bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, góp phần thúc đây phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời kỳ mới.
Di tích lịch sử văn hóa Luật Di sản văn hóa của nước ta có ghi: “Di tich lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [43. Tại Điều 4, Luật Di san văn hóa Việt Nam, được sửa đôi bổ sung năm 2009 có ghi: “Di 14 tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cô vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giả trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [43,tr. Đối tượng nghiên cứu của luận văn là di tích đình - chùa Thượng Đồng là một di tích lịch sử - văn hóa. Di tích là một công trình xây dựng, có các cô vật, và cũng là một địa điểm có gia tri vé mat lich str cũng như văn hóa ở cả quá khứ và hiện tại.
Từ các khái niệm trên có thé khang định rằng di tích lich sử - văn hóa là tài sản vô giá của mỗi cộng đồng, quốc gia dân tộc. Do đó, khi tiến hành công tác nghiên cứu, quản lý thì trước tiên, chủ thể nghiên cứu phải tiếp cận cận một cách chính xác các khái niệm di tích lịch sử - văn hóa và ứng dụng vào việc quan ly ở di tích đó. Về khái niệm về di vật, cô vật, bảo vật quốc gia được ghi trong luật DSVH như sau: "Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có gia trị lịch su, văn hóa, khoa học; Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia là những hiện vật lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa hoc" [43,tr. Xét theo những quy định trên, di tích đình - chùa Thượng Đồng còn lưu giữ được nhiều di vật, cô vật có giá trị như: ngọc phả, bia đá, chuông đồng, tượng thờ,.
có niên đại ở các thế kỷ XVII, XVII, XIX. Khái niệm quản ly Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nước của Học viện Hành chính Quốc gia có định nghĩa khái niệm guản jý như sau: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người dé chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã dé ra và đúng ý chi của người quan lý”°. Như vậy, quản ly có chức năng nhằm bảo vệ và duy trì các cơ cấu xác định của một tô chức, tập thể, đồng thời duy trì chế độ hoạt 2 Học viện hành chính quốc gia, Quan lý hành chính nhà nước (2004), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 15 động thực hiện một chương trình, kế hoạch và một mục tiêu nào đó của hoạt động đã được ý thức hóa của một nhóm, tập đoàn và một tổ chức xã hội hoặc một cá nhân nao đó với tư cách là một chủ thé của hoạt động quản lý.
Khái niệm quản lý văn hóa Khái niệm về Quản lý văn hóa, tác giả Dương Văn Sáu đã đề cập đến trong chương 2 cuốn Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch: "Quản ly văn hóa là quá trình xây dựng đường lỗi chính sách và tổ chức hoạt động nhằm bảo tôn và phát huy tốt nhất giá trị của văn hóa Việt Nam, dong thời tiếp thu những tỉnh hoa của văn hóa nhân loại, làm giàu cho văn hóa dân tộc”. [32, tr23] Khái niệm “quản lý văn hóa” trong luận văn được hiểu là công việc của nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước. Khái niệm bảo tồn Theo Tir điển Tiếng Việt, “Bảo ton là giữ lại không dé mat di” [59, tr. Bảo tồn tức là các hành động nhằm bảo vệ các sự vật, hiện tượng không làm cho chúng bi mai một, bị thay đồi và biến dang theo thời gian.
Khái niệm phát huy Theo Ti điển tiếng Việt, Phát huy là “làm cho cái hay, cái tot tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm ”[59, tr. Phát huy là hành động nhằm đưa văn hóa vào trong thực tiễn xã hội góp phần thúc đây yếu tố văn hóa đó được nhiều người biết đến, được cải tạo theo chiều hướng tốt hơn mà không làm mat đi giá trị nội tại của nó. Nhu vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa là các biện pháp dé gin giữ, tôn tạo các giá trị văn hóa để chúng không bị mai một, mờ nhạt. Bên cạnh đó cũng khiến cho các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp đó được lan 16 tỏa và tồn tại trong đời sống xã hội của con người hiện đại cũng như góp phần vào mục tiêu văn hóa trong phát triển kinh tế xã hội.
Nội dung công tác bảo ton và phát huy giá trị di tích Nhận biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, Đảng và nhà nước luôn quan tâm đến những nội dung trong lĩnh vực này như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6-1991) đã xác định nền văn hóa tiên tiễn và đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam._Hay trong Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, tháng 7-2004, đã ra kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm sắp tới. Đại hội lần thứ X của Đảng (4-2006) khăng định cần tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày 9/6/2014, BCH Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 33-NO/TW về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cẩu phát triển bên vững dat nước. Quan điểm của Nghị quyết khi đề cập đến bảo tồn và phát huy di sản văn hóa xác định cần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.