CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE VAN HÓA LANG DUONG LAM TRONG QUA TRÌNH ĐÔ THỊ HOA 1.1 Khái quát về văn hóa làng Đường Lâm 1. Làng và văn hóa làng * Làng Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, làng có một vị trí hết sức đặc biệt đối với sự trưởng thành của mỗi cá nhân và cả dân tộc. Mặc dù, ở mỗi khu vực, làng Việt có sự đa dạng về lịch sử, đặc điểm, bối cảnh văn hóa xã hội, nhưng khái niệm “làng” đều ăn sâu vào tình cảm, suy nghĩ, tập quán của người Việt. Trong xã hội hiện đại, những ấn tượng sâu sắc về làng vẫn in đậm trong tiềm thức của mỗi người Việt Nam thông qua những biểu tượng gần gũi, như cây đa, giếng nước, sân đình, công làng, hội làng, lệ làng.
Chính trong làng, con người gắn bó chặt chẽ với nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác, và sợi dây gắn kết con người trong cộng đồng làng chính là văn hóa. Theo “Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam”, làng là tiếng cô của người Việt Nam dùng dé chỉ đơn vị tụ cư của người Việt. Xã là từ Hán Việt dùng dé chỉ đơn vị hành chính thấp nhất ở nông thôn Việt Nam trong lịch sử, xã có thể gồm một hoặc nhiều làng. Nếu trong trường hợp xã là một làng thì tên xã trùng với tên làng, còn nếu xã bao gồm nhiều làng, trong ngôn ngữ hành chính, làng sẽ được gọi là thôn.
Trong ngôn ngữ dân gian cũng như cuộc sống đời thường, từ “làng” được dùng phổ biến hơn cả với nhiều nghĩa tình cảm, phi hành chính như “làng ta”, “người làng”, “sống ở làng, sang ở nước”. Về mặt ngôn ngữ, từ “làng” cũng chưa rõ có từ bao giờ. Đối chiếu với chữ Hán, làng cũng có thé hiểu là thôn, là lý, là hương, là xã. Trong các sách vở cũ, từ thời Lý, Trần nói đến hương nhiều hơn, chứ không nói đến thôn, lý hay xã.
Điển hình là khi xem tiểu sử các nhân vật thời Lý — Tran, chúng ta chỉ thấy ghi qué quán của ho là “hương”: Sứ Ngô Chan Lưu: hương Cát Lợi; Sư Mãn Giác: hương An Các; bà Lê Y lan: hương Thổ Lỗi,. Trong ngôn ngữ, cũng như trong cơ cấu tô chức, có nhiều từ được dùng để chỉ một khái niệm tương đương, đồng nhất hoặc gần gũi với làng như: trang, xá, kẻ, phường, thôn, phe, giáp. Thông thường, nhiều 13 địa phương hiểu các khái niệm này không giống nhau, bản thân các nhà nghiên cứu cũng có những quan điểm khác nhau về thuật ngữ này. Song, cho dù có cách gọi khác nhau, nhưng thuật ngữ nào cũng chứa đựng ý nghĩa về bản chất của làng.
Vì vậy, khi nghiên cứu nên có cái nhìn văn hoá đề hạn định vấn đề. Theo những nghiên cứu khảo cổ học, quá trình chiếm lĩnh và làm chủ vùng đồng bang, phát triển nghề trồng lúa nước, người Việt đã lay làng làm chỗ dựa. Cùng với thời gian, làng trở thành một cơ cấu tô chức khá hoàn thiện, là nơi lưu giữ truyền thống dân tộc, đảm bảo sự thích nghỉ và sáng tạo của người Việt trong một không gian sinh tồn nhất định. Làng chứa đựng cốt lõi và là cái nôi của văn hoá dân tộc Việt.
Trong những điều kiện lịch sử khác nhau, dau làng có thay đổi về cơ cấu kinh tế, xã hội, cốt lõi văn hóa ay, van cứ tồn tại. Các nhà nghiên cứu cho rằng Thái Lan, Lào, Trung Quốc không có kiểu làng như ở đồng bằng Bắc Bộ. Thôn ở Trung Quốc trước hết là một tổ chức hành chính, trong khi đó làng của người Việt trước hết là một tổ chức xã hội - văn hóa, sau đó mới là một tổ chức hành chính và dưới hành chính. Thôn Trung Quốc không có đình, không có tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (ở Trung Quốc, Thành Hoàng được thờ ở thành thi và không phổ biến).
Như vậy, làng Việt không phải là một sự rap khuôn giống thôn của Trung Quốc. Làng vừa là kết quả, vừa là cơ sở của quá trình người Việt chiếm lĩnh và khai thác các miền đồng bằng. Như vậy, có thé hiểu, “lang” Id tổ chức quân cư tự nhiên của những người dân Việt, là nơi những người dân Việt sống và đoàn kết với nhau chống lại thiên tai, địch hoạ, để lao động sản xuất và tổ chức đời sống văn hoá tinh than. Làng là nơi thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mỗi người dân, làng có giới hạn lãnh thổ và môi trường văn hoá tín ngưỡng xác định.
Ö một khía cạnh khác, tác giả Bùi Xuân Đính cho rằng, lang là “đơn vi tụ cư truyền thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, có cơ cấu tô chức, cơ sở hạ tầng, các tục lệ (về cưới cheo, tang ma, khao vọng) thờ cúng riêng, tâm lý tính cách riêng và ca “thé ngữ” (tiếng làng) riêng, hoàn chỉnh và tương đối ôn định trong quá trình lịch sử”[23.97] Sự biến đồi của làng Việt Nam trong lịch sử Ở giai đoạn đầu tiên trong lịch sử tiến hoá của làng Việt, làng là nơi cư trú của một dong họ. Đó là giai đoạn làng công xã thị tộc. Những dấu vết về sự tô chức 14 làng theo huyết thống như vậy còn lưu giữ đến ngày nay trong các tên gọi cổ xưa của làng như, Đặng Xá, Ngô Xá, Đỗ Xá, Trần Xá, Nguyên Xá, Châu Xá. Giai đoạn tiếp theo trong quá trình biến đổi của làng Việt là giai đoạn làng — công xã nông thôn.
Giai đoạn này bắt đầu khi chế độ công xã thị tộc tan rã. Lúc đó, làng được tổ chức không chỉ dựa trên quan hệ huyết thống mà dựa trên quan hệ địa vực. Do lực lượng sản xuất phát triển, trình độ sản xuất của xã hội tiến bộ hơn, cách té chức làng mac chủ yếu dựa trên quan hệ huyết thống không còn đáp ứng được yêu cau phát triển sản xuất, văn hoá làng phát triển rực rỡ, tính cộng đồng huyết thống, địa vực đan xen hoà trộn với tính cộng đồng văn hoá - tín ngưỡng. Làng Việt không những là “cái nôi” nuôi nắng văn hoá Việt, ma còn là thành tri vững chắc chống lại cuộc xâm lăng và đồng hoá văn hoá.
Từ thế kỷ thứ X trở đi, làng Việt dần dần bị phong kiến hoá. Cùng với quá trình tư hữu hoá ruộng đất, quá trình phân hoá giai cap, dang cấp và quá trình phong kiến hoá các mặt đời sống của làng cũng diễn ra mạnh mẽ. Có thé gọi giai đoạn phát triển này của làng là giai đoạn làng tiêu nông phong kiến công tư điền. Trong thời kỳ Pháp thuộc, chính sách cai trị và khai thác thuộc địa đã tác động đến làng Việt và làm làng Việt thay đổi ít nhiều.
Nhưng cho đến trước cách mạng tháng Tám 1945, về cơ bản làng Việt vẫn chưa thoát khỏi giai đoạn tiểu nông công tư điền lạc hậu của mình. Như vậy, có thể hình dung, làng - đầu tiên là điểm tụ cư của những người cùng huyết thống, sau đó, dé phù hợp với sự phát triển của xã hội và lich sử, làng còn là nơi tụ cư của những nhóm người cùng nghề nghiệp, bao gồm nhiều dòng họ khác nhau. Đến khi Nhà nước ra đời, làng là một đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước va là một tổ chức tự quản, quân sự và văn hoá khá hoàn chỉnh. Làng là đơn vi cơ bản hình thành nên quốc gia dân tộc.
Quốc gia là kết quả của sự liên kết các làng xã, là liên làng, là siêu làng. Làng xã có vai trò trung gian gắn kết giữa cá nhân, gia đình, làng xã và tô quốc. Thực tế, có rất nhiều làng Việt là những tế bảo sống sinh thành một cách tự nhiên, ra đời mà không phải thông qua bàn tay của chính quyền Trung ương. Nó tồn tại lâu dài với một diện mạo và cá tính riêng biệt cho từng làng, nên được các triều đại phong kiến nối tiếp nhau xem như những “cấu kiện đúc sẵn”.
Làng Việt có thé hình 15 thành bằng nhiều cách thức khác nhau nhưng dù băng cách nào đi nữa, bao giờ các tên gọi của làng cũng mang ý nghĩa văn hoá sâu sắc và có một số đặc trưng cơ bản Thứ nhất, làng trước hết là một cộng đồng có lãnh thé riêng. Lãnh thé là dấu hiệu xác định không gian sinh tồn của cộng đồng làng, là ranh giới phân định giữa các làng. Dấu hiệu ấy được xác định trong hương ước làng. Lãnh thổ cũng là tài sản chung của làng, được hình thành từ thuở lập làng, được khai phá qua thời gian với công sức nhiều thé hệ.
Mỗi thành viên của làng có nghĩa vụ bảo vệ và quyền lợi dé khai thác lãnh thổ ấy. Trong cấu trúc không gian cư trú của làng, mỗi làng gồm nhiều tông tộc, mỗi tông tộc lại gồm nhiều gia đình, gia đình là những đơn vị sản xuất độc lập quần tụ với nhau theo quan hệ “láng giềng” nhưng bên cạnh đó tính chất cư trú theo quan hệ họ hàng cũng khá phổ biến. Tính chat cư trú theo quan hệ họ hàng hoàn toàn không đối lập với tính chất cư trú theo quan hệ láng giéng. Trong làng xã cổ truyền Việt Nam, đây là hai phương thức cộng cư trên cùng một địa vực.
Thứ hai, làng là một cộng đồng kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc. Kết cau kinh tế - cơ sở chính của đa số các làng (xã) cô truyền thường gồm ba yếu tố căn bản: nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, trong đó nông nghiệp là hoạt động kinh tế nôi bật. Dù thuộc loại hình nào, làng xã cô truyền cũng có cơ sở kinh tế nặng tinh tự cấp tự túc mặc dù chỉ mang tính chất tương đối. Vì lẽ đó, phạm vi sinh sống, làm ăn của cư dân thường chỉ “gói gọn” trong một làng, không phức tạp.
Làng là một cộng đồng kinh tế chung, cư dân mỗi làng có chung một hoặc nhiều nghé, có khi chi có một công đoạn nghề. Thứ ba, Làng có tính biệt lập về xã hội và tính độc lập tương đối về chính trị theo kiểu dân chủ làng (xã): Đây là một đơn vị được quan lý chặt chẽ trong một kết cấu xã hội phân tầng theo chức tước, theo khoa mục, theo tuổi tác, theo trật tự thân tộc. Sự chang chéo các mối quan hệ này gắn kết mọi thành viên với nhau trong làng và lệ thuộc vào làng, trói buộc họ vào khuôn khô chật hẹp của những quy tắc cô truyền. Làng (xã) với tư cách là một đơn vị hành chính cấp cơ sở, nó có nghĩa vụ với Nhà nước, nhưng ngoài nghĩa vụ đó, mỗi làng đều có một cơ chế tự quản lý công việc làng thông qua hương ước và các thiết chế xã hội của làng.