phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 03 chương như sau: tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 18 of 61. Header Page of 61. 10 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách đối với nghệ nhân Chƣơng 2: Thực trạng công tác thực hiện chính sách, pháp luật về di sản văn hóa và hoạt động của nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả hoạt động của nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 19 of 61. Header Page of 61.
11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỔI VỚI NGHỆ NHÂN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGHỆ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm di sản văn hóa Theo Điều 1, Luật Di sản văn hóa (2013) [12] nêu rõ định nghĩa về di sản văn hóa của Việt Nam như sau: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Văn hóa là cái chung, di sản văn hóa là cái riêng.
Di sản văn hóa là những giá trị văn hóa đặc biệt bền vững vì nó phải được thẩm định một cách khắt khe bằng sự thừa nhận của cả cộng đồng người trong một thời gian lịch sử lâu dài, đây là tính chất đặc thù của di sản văn hóa. Di sản văn hóa là một bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc, nó là sự tổng hòa của một tập hợp ba cặp phạm trù vừa thống nhất, vừa tương phản: truyền thống - hiện đại, thừa kế - phát triển, dân tộc - quốc tế. Di sản văn hóa có 7 đặc trưng cơ bản (1) Tính hệ thống: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần của cộng đồng người, di sản văn hóa là tinh hoa của văn hóa nên cũng có tính hệ thống. (2) Tính giá trị: Di sản văn hóa gồm các giá trị thuộc về đời sống vật chất và giá trị thuộc về đời sống tinh thần trở thành thước đo về mức độ nhân bản của xã hội và con người.
(3) Tính lịch sử: Di sản văn hóa được hình thành qua một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ. tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 20 of 61. Header Page of 61. 12 (4) Tính nhân sinh: Di sản văn hóa là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về con người, ở trong con người và mang dấu ấn người.
(5) Tính hiểu biết: Hiển thị ở khả năng sáng tạo và tích lũy thông tin, trong di sản văn hóa chứa đựng vốn kinh nghiệm và tri thức sống của con người. (6) Tính biểu tượng: Là khả năng trình bày, diễn đạt một ý nghĩa trừu tượng, sâu sắc bằng một hình tượng cụ thể. (7) Tính sử liệu: Di sản văn hóa cung cấp các dữ liệu, sử liệu phản ánh trình độ, quan niệm của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc trong quá trình lịch sử. Trên dòng chảy của lịch sử, các di sản luôn tích vào bản thân chúng những dấu tích của thời đại, vì vậy chúng chứa trong mình những sử liệu thuộc về nhiều lớp thời gian lịch sử khác nhau.
Như định nghĩa về di sản văn hóa Việt Nam ở Điều 1, Luật Di sản văn hóa (2013) đã nêu bên trên thì di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2013): Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 21 of 61. Header Page of 61. 13 thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các lĩnh vực: Ngữ văn dân gian; Tiếng nói, chữ viết; Các loại nghệ thuật trình diễn dân gian; Những tín ngưỡng và tập quán xã hội; Các lễ hội truyền thống; Ngành nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian. (b) Di sản văn hóa vật thể: Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2013), di sản văn hóa vật thể được hiểu là những sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, khoa học, văn hóa và bao gồm những khía cạnh: - Danh lam thắng cảnh: là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. - Di tích lịch sử - văn hóa: là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. - Bảo vật quốc gia: là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Cổ vật: là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên. - Di vật: là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Di sản văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng: Di sản văn hóa là nguồn lực quốc gia, là động lực phát triển. Trong Luật Di sản văn hóa Việt Nam ghi rõ: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 22 of 61.
Header Page of 61. 14 nhân dân ta”. Tính tài sản thể hiện ở việc có giá trị, có chủ sở hữu và có thể bị mất cắp. Các loại cổ vật, di vật, bảo vật có giá trị kinh tế lớn, thậm chí là vô giá.
Các di tích văn hóa - lịch sử là nguồn lực tham ra trực tiếp vào nền kinh tế khi gắn với ngành du lịch. Các di sản văn hóa phi vật thể đóng vai trò điều chỉnh, giữ gìn ổn định xã hội, góp phần bồi dưỡng trí tuệ, tâm hồn mỗi con người, biến mỗi con người thành nguồn lực lao động có phẩm chất tốt. Di sản văn hóa là linh hồn gắn kết dân tộc. Trong xã hội hiện đại, di sản văn hóa được quan niệm không phải như những biểu tượng hoài niệm về quá khứ mà như một nội lực cố kết cộng đồng, điều này giải thích vì sao một số dân tộc sống tha phương khắp nơi trên thế giới, không có tổ quốc nhưng vẫn không bị triệt tiêu, không bị vong bản.
Họ đã được kết nối với nhau chủ yếu bằng hệ thống các di sản mà cha ông họ đã tích lũy được qua quá trình lịch sử và họ vẫn tiếp tục gìn giữ, trân trọng và phát huy khối di sản đó để tạo thành nền tảng hạt nhân gắn kết dân tộc. Di sản văn hóa là hiện thân của bản sắc văn hóa dân tộc và là biểu hiện của sự đa dạng và phong phú của văn hóa nhân loại. Vì thế giữ gìn di sản văn hóa chính là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và giữ gìn đa dạng và phong phú của văn hóa nhân loại. Khái niệm nghệ nhân Theo gốc tiếng Hán thì “nhân” có nghĩa là người, “nghệ” có nghĩa là tài năng, “nghệ nhân” là người có tài năng.
Từ này không dùng để chỉ người làm nghệ thuật nói chung như từ nghệ sĩ. Trên thực tế, người Việt chủ yếu sử dụng từ này với người làm nghề thủ công mĩ nghệ như gốm, kim hoàn và một số hình thái nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Những người chuyên làm nghề thủ công mĩ nghệ nhưng trình độ không cao như nghệ nhân, người ta dùng từ tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 23 of 61. Header Page of 61.
15 “thợ”, như thợ gốm, thợ kim hoàn. còn với nghệ thuật biểu diễn người ta thường dùng từ “nghệ sĩ”. Theo Hoàng Phê: “Nghệ nhân”: người chuyên nghề biểu diễn một bộ môn nghệ thuật hoặc chuyên làm một nghề thủ công mĩ nghệ, có tài nghệ cao. “Nghệ sĩ”: người chuyên hoạt động “sáng tác hoặc biểu diễn” trong một bộ môn nghệ thuật” [11, tr.
“Nghệ nhân” còn có một điểm khác với “nghệ sĩ” là nghệ nhân không học ở trường lớp nào, phần lớn là họ tự học hoặc được truyền dạy. Trong văn hóa dân gian ở Tây Nguyên thường gọi nghệ nhân cồng chiêng, nghệ nhân dệt thổ cẩm. để chỉ những người có tài năng đặc biệt về một lĩnh vực nào đó trong dân gian được lưu truyền từ nhiều đời. Là chủ thể sáng tạo của di sản, đồng thời là một thành viên trong cộng đồng dân cư, nghệ nhân có thể là những nghệ sĩ, những người thợ giỏi, nắm bí quyết nghề được cộng đồng tin tưởng.
Ngoài danh từ nghệ nhân nói chung còn có các danh hiệu của nghệ nhân để đánh giá, phân biệt và xếp hạng tay nghề, kinh nghiệm, kiến thức của nghệ nhân do cơ quan Nhà nước xét tặng theo các tiêu chí đã được quy định, bao gồm: Danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”: Là danh hiệu cao quý do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã trao cho những người có thành tích đóng góp trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị của văn hóa phi vật thể, giữ vai trò quan trọng trong sáng tạo, sở hữu, bảo tồn và truyền dạy các giá trị văn hóa dân gian ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” là những danh hiệu vinh danh được Nhà nước trao tặng cho các cá nhân khi đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định pháp luật, danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” được xét và công bố 3 năm một lần vào dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 24 of 61.