chương 1, trình bày sơ lược nội dung chính của 5 chương trong bài nghiên cứu. CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm sơ lƣợc về ví điện tử 2.1 Định nghĩa về ví điện tử Theo NHNN, “Dịch vụ Ví điện tử” được định nghĩa là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ tạo lập trên một vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy chủ…), cho phép lưu trữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền mặt tương đương và được sử dụng để thanh toán thay thế cho tiền mặt. Theo công ty chuyển mạch tài chính Quốc gia (Banknetvn), “Ví điện tử” là một tài khoản điện tử, nó giống như “ví tiền” của người dùng trên Internet và đóng vai trò như một chiếc ví tiền mặt trong TTTT, giúp người dùng thực hiện công việc thanh toán các khoản phí trên Internet, gửi tiền một cách nhanh chóng, đơn giản và tiết kiệm cả về thời gian, công sức lẫn tiền bạc. Tài khoản của ví điện tử lưu trữ tất cả thông tin cá nhân của người dùng để giúp người dùng tiến hành giao dịch.
Ngoài ra, còn có thể liên kết tài khoản ngân hàng giúp giao dịch được thực hiện nhanh chóng hơn.2 Chức năng và lợi ích của ví điện tử Chức năng: Tính đến thời điểm hiện tại, NHNN đã cấp phép thí điểm cho 9 nhà cung cấp ví điện tử và mỗi nhà cung cấp đều có một chiến lược phát triển riêng hướng đến các đối tượng khách hàng khác nhau. Vì vậy, sản phẩm ví điện tử của mỗi doanh nghiệp đều có những tiện ích và đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các ví điện tử tại Việt Nam hiện nay đều có 4 chức năng chính: 18 - Lưu trữ tiền trên tài khoản điện tử: khách hàng có thể sử dụng VĐT làm nơi lưu trữ tiền dưới dạng tiền số hóa (tiền điện tử) một cách an toàn và tiện lợi. Và số tiền ghi nhận trên tài khoản VĐT tương đương với giá trị tiền thật được chuyển vào.
- Thanh toán trực tuyến: khi đã có tiền trong tài khoản VĐT thì khách hàng cũng có thể sử dụng số tiền này để thanh toán cho các giao dịch mua sắm trực tuyến trên các gian hàng/website TMĐT tại Việt Nam hoặc ở nƣớc ngoài có tích hợp chức năng thanh toán bằng VĐT đó. - Truy vấn tài khoản: với chức năng này, chủ tài khoản VĐT có thể thực hiện các thay đổi về thông tin cá nhân, mật khẩu, tra cứu số dư, xem lịch sử giao dịch trong tài khoản VĐT của mình. Ngoài ra các DNCƯVĐT tại Việt Nam hiện nay còn phát triển và tích hợp thêm nhiều chức năng phụ khác nhằm đem lại nhiều tiện ích hơn cho khách hàng khi sử dụng VĐT, như: - Thanh toán hóa đơn: các DNCƯVĐT đã mở rộng liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp cung ứng các dịch vụ sinh hoạt thiết yếu như điện thoại, internet, điện lực, nước, truyền hình… cho phép khách hàng có thể thanh toán các loại hóa đơn sinh hoạt này thông qua tài khoản VĐT một cách chủ động và thuận tiện. - Thanh toán, mua các sản phẩm dịch vụ: Nạp thẻ cào điện thoại, thẻ game online, trả phí tham gia diễn đàn: khi sở 9 hữu VĐT người dùng internet cũng có thể sử dụng tiền trong tài khoản VĐT để chi trả những khoản phí nhỏ cho các dịch vụ nội dung số trên internet dễ dàng, nhanh chóng với chi phí thấp hơn so với các phương thức TTTT khác.
Mua vé điện tử: với sự gia tăng của nhu cầu mua vé điện tử như vé máy bay, vé tàu, vé xe, vé xem phim, ca nhạc …các DNCƯVĐT đã mở rộng thêm chức năng mua vé điện tử nhằm đáp ứng nhu cầu và gia tăng tiện ích cho người dùng VĐT. Thanh toán học phí: khi sử dụng VĐT ngƣời dùng có thể thanh toán học phí cho các khóa học online, đào tạo từ xa …một cách dễ dàng và tiện lợi. Thanh toán đặt phòng: hiện nay một số DNCƯVĐT tại Việt Nam đã liên kết với các trang đặt phòng khách sạn để tích hợp chức năng thanh toán tiền đặt phòng trực tuyến cho khách hàng có tài khoản VĐT. Mua bảo hiểm ôtô – xe máy… Lợi ích: Ví điện tử được coi là phương thức thanh toán trực tuyến thông minh, với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử và quá trình hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng sẽ trở thành xu hướng thanh toán phổ biến trong tương lai.
Với những đặc điểm và chức năng của mình, ví điện tử cho thấy dịch vụ này mang lại nhiều lợi ích cho các bên liên quan, chẳng hạn như: Đối với doanh nghiệp Tăng doanh số bán hàng: Hiện nay, nhiều công ty đã thiết lập và triển khai kênh bán hàng trực tuyến thông qua mạng Internet. Theo báo cáo thương mại điện tử, năm 2012, 38% doanh nghiệp triển khai bán hàng qua website (30% năm 2011), 17% tích hợp chức năng thanh toán trực tuyến trên trang web của mình (30% năm 2011 và 7% năm 2011). Do tính bảo mật và tiện lợi khi thanh toán trực tuyến, ví điện tử sẽ giúp người tiêu dùng và doanh nghiệp an tâm hơn khi tham gia giao dịch trên Internet. Điều này sẽ giúp các công ty tăng doanh số bán hàng thông qua các kênh thương mại điện tử.
Ngoài ra, VĐT cũng giúp giảm một số vấn nạn như tiền giả, tiền rách, thất thoát tiền, sai lệch thông tin vì tất cả thông tin trong VĐT đều đã được xác thực. Đối với người tiêu dùng Giảm thiểu thiệt hại do mất thông tin tài khoản: So với các phương thức liên lạc thông tin khác (thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, mobile banking, internet banking). Sự mất mát là tối thiểu. Bởi vì các phương thức khác được liên kết trực tiếp với tài khoản, thường có một số tiền lớn trong tài khoản.
VĐT chỉ chứa số tiền thích hợp mà chủ tài khoản gửi vào để thực hiện một số giao dịch nhất định. Tránh bị lừa đảo khi mua sắm trực tuyến vì một số VĐT có chức năng thanh toán tạm giữ bảo vệ người tiêu dùng, với chức năng này khi khách hàng thanh toán tiền cho người mua 20 số tiền đó được tạm giữ và chỉ thực sự chuyển tới người bán khi người mua đã nhận được hàng. Sử dụng VĐT giúp tăng tiện ích với khách hàng, việc sử dụng đơn giản nhanh chóng và thực hiện bất cứ nơi đâu giúp khách hàng giảm được tối thiểu lượng thời gian so với thanh toán truyền thống. Đối với các ngân hàng (Duy Mạnh, 2019).
Tăng tính năng cho TKNH, gia tăng giá trị các dịch vụ tiện ích cho khách hàng nhất là trong TTTT, nhờ đó nâng cao khả năng giữ chân khách hàng trung thành nhờ có nhiều tiện ích thanh toán gắn với chi tiêu hàng ngày của họ, tăng lượng tài khoản thanh toán, gia tăng tính cạnh tranh với các ngân hàng khác, từ đó góp phần mở rộng và đẩy mạnh thương hiệu của ngân hàng. Ngân hàng có thể tận dụng được hạ tầng kỹ thuật, công nghệ của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán như các DNCƯVĐT trong việc phát triển đa dạng hóa phương thức thanh toán. Ngân hàng sẽ thu được khoản phí nhờ việc xử lý thanh toán dịch vụ nạp tiền, chuyển tiền và rút tiền trên các tài khoản VĐT.3 Quy định của pháp luật về ví điện tử Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH: được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 29/11/2005 tại kỳ họp thứ tám, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/03/2006. Luật Giao dịch điện tử quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định.
Luật gồm tám chương, 54 điều bao gồm hầu hết các yếu tố, bên liên quan đến giao dịch điện tử như: chữ ký điện tử, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử, giá trị pháp lý chữ ký điện tử, giá trị pháp lý của hợp đồng ký bằng chữ ký điện tử, trách nhiệm các bên liên quan đến bảo mật thông tin, giải quyết tranh chấp liên quan đến giao dịch điện tử. Nghị định 26/2007/NĐ-CP: quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số. Nghị định quy định về việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số. Đây là những quy định nền tảng để thiết lập một cơ chế đảm bảo an ninh, an toàn và độ tin cậy của các giao dịch điện tử.
Nghị định 27/2007/NĐ-CP: Quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính. Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân lựa chọn sử dụng giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính. Nghị định quy định chi tiết về giá trị pháp lý của chứng từ, hóa đơn điện tử; quy định cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm, tố tụng, tranh chấp và xử lý vi phạm liên quan đến các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính. Nghị định 35/2007/NĐ-CP: Quy định chi tiết giao dịch điện tử trong lĩnh vực ngân hàng.
Nghị định áp dụng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền lựa chọn giao dịch bằng phƣơng tiện điện tử hoặc giao dịch theo phương thức truyền thống. Nghị định quy định về điều kiện cung ứng dịch vụ giao dịch điện tử trong lĩnh vực ngân hàng; quy định về định dạng, tính hiệu lực pháp lý của chứng từ điện tử; quy định về việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại và xử lý vi phạm liên quan đến các giao dịch điện tử trong lĩnh vực ngân hàng. Thông tư 6251/NHNN-TT: Về việc thực hiện giao dịch TTTT và VĐT. Cụ thể, văn bản này đề nghị các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, các tổ chức đã được NHNN cho phép thực hiện thí điểm cung ứng dịch vụ VĐT cần tăng cường thực hiện các biện pháp an ninh, bảo mật nhằm đảo bảo an toàn cho khách hàng khi sử dụng các dịch vụ thanh toán thẻ, TTTT qua internet, điện thoại di dộng do mình cung cấp.
Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khi cung ứng dịch vụ VĐT cho khách hàng (nếu có) cần bố trí một tài khoản riêng biệt để theo dõi toàn bộ lượng tiền đang lưu hành trên VĐT; đảm bảo số dư của tài khoản bằng tổng số tiền trên các VĐT cung cấp cho khách hàng.