Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG LIÊN MINH CHÂU ÂU Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về xuất khẩu hàng hóa nói chung, xuất khẩu thủy sản và xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU nói riêng. Các vấn đề đã được nghiên cứu đó là: 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN XUẤT KHẨU VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến xuất khẩu và xuất khẩu thủy sản Mô hình H-O của hai nhà bác học Eli Hecksher (1879-1952) và B.Ohlin (1899-1979) trong: “Thương mại liên khu vực và quốc tế” [32], xuất bản năm 1933, tiếp tục phát triển lý thuyết lợi thế tương đối của D.
Theo họ, trong một nền kinh tế mở cửa các nước đều có xu hướng chuyên môn hoá các ngành cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà nước đó thuận lợi nhất để có được ưu đãi hơn so với nước khác. Chính những lợi thế về vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu. đã giúp cho một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn trong sản xuất những sản phẩm xuất khẩu nhất định. Cơ sở lý luận của lý thuyết H-O vẫn chủ yếu là dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo nhưng ở cấp độ cao hơn vì đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các các nguồn lực trong sản xuất.
Vì vậy, lý thuyết H-O còn được gọi là “lý thuyết lợi thế so sánh các nguồn lực sản xuất vốn có”. “Thành tựu trong xuất khẩu và các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu: Hạn chế về điều kiện cung và cầu” của Fugazza (2004) [33]. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Các yếu tố này được chia thành 2 nhóm: nhóm các yếu tố bên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 ngoài và nhóm các yếu tố bên trong.
Nhóm các yếu tố bên ngoài bao gồm khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu hàng hóa và một số yếu tố ảnh hưởng đến cầu nhập khẩu hàng hóa. Nhóm yếu tố bên trong bao gồm các yếu tố liên quan đến cung xuất khẩu, vị trí địa lý ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn nguyên liệu tự nhiên và các nguồn nguyên liệu khác. Nghiên cứu cho thấy việc tiếp cận thị trường các nước bên ngoài khu vực trở thành yếu tố quan trọng để có được những thành tựu trong xuất khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định tầm quan trọng của những hiệp định thương mại khu vực.
Môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi và cơ sở hạ tầng giao thông trong nước là yếu tố quan trọng thể hiện khả năng cung và được cho là có tác động tích cực đối với việc nâng cao hiệu quả cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa. “Free Trade Agreements (Trade In Goods) Guide for SME” của Spring Singapore (2005) [131] đã tập trung phân tích vai trò của FTA đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên các nội dung cơ bản về khái niệm, khuôn khổ, quy định của FTA và các vấn đề liên quan đến thương mại hàng hóa. Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho các doanh nghiệp xuất khẩu để thực thi các giải pháp phù hợp đáp ứng được yêu cầu và tận dụng lợi thế mà FTA mang lại cho doanh nghiệp. Cuốn sách “Bilateral and regional free trade agreement: Some critical elements and development implications” của tác giả Martin Khor (2005) [130], đã nghiên cứu những vấn đề quan trọng có liên quan đến FTA song phương và khu vực.
Tác giả cũng phân tích những lợi ích và hạn chế của FTA đối với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển khi tham gia FTA. Theo đó, tác giả cho rằng nếu đàm phán thành công FTA sẽ mang lại nhiều lợi ích thương mại cho quốc gia như: tạo thị trường hàng hóa, dịch vụ; giảm các quy định khắt khe về vệ sinh dịch tễ và rào cản công nghệ; tăng cường các biện pháp hỗ trợ; tăng dòng chảy đầu tư công nghệ. Tuy nhiên, FTA cũng dẫn đến một số bất lợi cho các quốc gia bao gồm: tăng nợ quốc gia; thâm hụt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cán cân thương mại, doanh nghiệp trong nước thiệt hại. Theo tác giả, hầu hết các quốc gia đang phát triển hiện nay đều gặp phải những khó khăn này khi tham gia FTA song phương và đa phương.
Do vậy, các quốc gia này cần nghiên cứu, đánh giá, so sánh giữa khó khăn và lợi ích để đưa ra các quyết định khi đàm phán, giúp cho FTA mang lại hiệu quả cao nhất. Bose, Shekar và Galvan (2005) đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu tôm hùm đá tươi sống của New Zealand sang thị trường Nhật Bản[123]. Hai tác giả đã đề xuất mô hình lý thuyết, khối lượng xuất khẩu tôm hùm chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố như: khối lượng sản xuất tôm hùm trong nước, giá sản xuất tôm hùm trong nước và tính mùa vụ. Nghiên cứu sử dụng mô hình hiệu chỉnh từng phần (Partial Adjustment Model - PAM) với số liệu thứ cấp từ năm 1989 - 1998 để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu tôm hùm của New Zealand sang thị trường Nhật Bản.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra khối lượng xuất khẩu tôm hùm của New Zealand sang thị trường Nhật Bản chịu ảnh hưởng bởi khối lượng sản xuất tôm hùm của New Zealand. Như vậy, chỉ có một yếu tố khối lượng sản xuất trong nước của quốc gia xuất khẩu có tác động đến khối lượng xuất khẩu thủy sản của New Zealand sang Nhật Bản, kết quả này chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay và chưa có tính thuyết phục cao. (2006), đã nghiên cứu “Revenue distribution through the seafood value chain. FAO Fisheries Circular” [129] ở bốn nước Iceland, Tanzania, Moroccan, Đan Mạch đại diện bốn loại thủy sản khác nhau cho các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Dựa trên khái niệm chuỗi giá trị của Kaplinsky, các tác giả đã mô tả chuỗi giá trị cho các sản phẩm thủy sản được chọn của từng nước (cá tuyết ở Iceland, cá rô ở Tanzania, cá cơm ở Moroccan, cá trích ở Đan Mạch). Chi phí, giá trị gia tăng mỗi phân đoạn trong chuỗi giá trị cũng được tính toán. Tiếp đó, xem xét trong toàn bộ chuỗi giá trị hải sản xuất khẩu, nước xuất khẩu kiểm soát bao nhiêu phần trăm và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 khâu phân phối thu nhập được phân bổ như thế nào. Cuối cùng, so sánh chéo giữa các chuỗi giá trị gia tăng của các quốc gia.
Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến xuất khẩu và xuất khẩu thủy sản Nguyễn Văn Nam (2002) trong “Chính sách và giải pháp phát triển thị trường hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, tầm nhìn đến 2020” [81], đã đề cập đến những vấn đề cơ bản có liên quan đến phát triển xuất khẩu hàng hóa. Tác giả cho rằng phát triển xuất khẩu hàng hóa là một khái niệm bao hàm nhiều vấn đề khác nhau trong đó quan trọng nhất là phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa và phát triển hàng hóa xuất khẩu. Phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa nhằm giải quyết vấn đề tiêu thụ số hàng hóa sản xuất ra và vấn đề tạo ra được những hàng hóa có khả năng cạnh tranh cao, vừa đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới. Tác giả nhấn mạnh cần lấy việc phát triển và đáp ứng nhu cầu thị trường làm định hướng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng xuất khẩu hàng hóa và nâng cao hiệu quả, gắn xuất khẩu với nhập khẩu và lấy việc đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới làm mục tiêu chính cho sản xuất trong nước.
Qua đề tài này, tác giả đã chỉ ra để phát triển xuất khẩu hàng hóa cần phải phát triển thị trường xuất khẩu và để phát triển thị trường xuất khẩu cần phải chuyển dịch cơ cấu hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của thị trường xuất khẩu hàng hóa. Cuốn sách “Phát huy lợi thế so sánh để đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hiện nay” của Võ Văn Đức (2004) [31]. Tác giả đi sâu phân tích các lợi thế so sánh của Việt Nam và đưa ra những kiến nghị cũng như hệ thống những giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tình hình mới. Tác giả đã hệ thống hóa lý thuyết những lợi thế của Việt Nam trong xuất khẩu hàng hóa bao gồm: lợi thế về nguồn lao động giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 rẻ, lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên và bất lợi thế, thách thức của Việt Nam trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.
Sách tham khảo: “Thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam”, của Đinh Văn Thành (2007) [96]. Tác giả đã nghiên cứu thực trạng sản xuất và xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam vào một số thị trường như: Trung Quốc, EU, Mỹ. Dựa vào phân tích thực trạng đó, tác giả đánh giá những kết quả đạt được, tập trung đánh giá đến yếu tố lợi thế so sánh của xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam cũng như phân tích những thách thức mà xuất khẩu cao su Việt Nam gặp phải. Từ đó, dự báo triển vọng thị trường cao su tự nhiên thế giới cũng như Việt Nam và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển, nâng cao hiệu quả xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam.
Sách chuyên khảo: “Rào cản thương mại trong chuỗi giá trị toàn cầu: Trường hợp xuất khẩu da giày Việt Nam sang thị trường EU”, Đinh Công Hoàng (2021) [38]. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết vể rào cản thương mại và vượt rào cản thương mại đối với mặt hàng da giày xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU. Đồng thời, làm rõ thực trạng bức tranh xuất khẩu da giày của Việt Nam vào thị trường EU trong giai đoạn từ 2014 đến năm 2019 qua đó đánh giá những biện pháp khắc phục rào cản thương mại ở cả ba cấp là Nhà nước, hiệp hội và doanh nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp đồng bộ và cụ thể, có tính khả thi, dựa trên những phân tích về thực trạng hạn chế của nội tại ngành da giày.
Các nhóm giải pháp vượt rào cản thương mại được xây dựng và đề xuất một cách đồng bộ và hệ thống nhằm khắc phục những mặt hạn chế của ngành da giày.