Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về xuất khẩu và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) Chương 3: Thực trạng tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đến xuất khẩu sản phẩm nông sản gia vị sang thị trường EU của Công ty Cổ phần Tinh dầu thiên nhiên Hà Nội Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp thúc đẩy tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của Hiệp định EVFTA đến xuất khẩu mặt hàng nông sản gia vị sang thị trường EU của Công ty Cổ phần Tinh dầu thiên nhiên Hà Nội. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - EU (EVFTA) 2.1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2.1 Khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động cơ bản trong kinh tế đối ngoại, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực hơn. Tính đến nay, rất nhiều quan điểm khác nhau về xuất khẩu đã được đưa ra trên thế giới và Việt Nam, như một số quan điểm dưới đây: Trước hết, theo lý luận thương mại quốc tế, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài. Trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF (International Monetary Fund), xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài. Trong cuốn Thương mại quốc tế của Feenstra and Taylor (2010), tác giả định nghĩa: "Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Trong khi đó, tại Việt Nam, Luật thương mại 2005 tại Điều 28, khoản 1, định nghĩa rằng “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Tóm lại, có thể hiểu đơn giản, bản chất của xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa chủ thể ở các quốc gia khác nhau, sử dụng phương tiện thanh toán là tiền tệ.2 Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng đối với cả quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu.
Đặc biệt, với các quốc gia có lợi thế nhất định về điều kiện tự nhiên và lao động thì xuất khẩu 11 đóng góp một phần rất quan trọng trong GDP và có vai trò to lớn với phát triển của quốc gia đó, cụ thể: Thứ nhất, xuất khẩu góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Xuất khẩu hàng hóa và sự tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và điều này được thể hiện qua sự đóng góp của kim ngạch xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Khi xuất khẩu tăng, GDP của quốc gia tăng lên. Nếu quá trình này diễn ra trong một thời gian dài sẽ kéo theo sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Thứ hai, xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lực và lợi thế của quốc gia. Do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi nhanh chóng. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa để phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới là con đường tất yếu đối với từng quốc gia. Để phục vụ cho xuất khẩu, việc tổ chức sản xuất ở mỗi quốc gia đều phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới.
Điều này tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Thứ ba, xuất khẩu có tác động tích cực đến việc nâng cao đời sống của nhân dân trên cơ sở tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Xuất khẩu có khả năng thu hút hàng triệu lao động vào làm việc với thu nhập cao góp phần cải thiện đời sống. Ở những nước có nguồn lao động dồi dào với tỷ lệ lao động nông thôn lớn, việc đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt là lĩnh vực nông sản không chỉ giải quyết được một lượng lớn lao động không có việc làm mà còn tạo nên sự ổn định về thu nhập cho những người dân sống ở nông thôn.
Thứ tư, xuất khẩu góp phần mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại, tăng cường địa vị kinh tế của quốc gia trên thị trường thế giới. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại, có vai trò thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại khác cùng phát triển. Bởi vì xuất khẩu phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của các hoạt động dịch vụ quốc tế trong các lĩnh vực khác như: đầu tư tài chính - tín dụng, bảo hiểm, thanh toán quốc tế, vận tải quốc tế, chuyển giao công nghệ. Từ đó, các quốc gia có thể nâng cao các quan hệ kinh tế đối ngoại, tăng cường vị thế trên trường quốc tế hơn.3 Các hình thức xuất khẩu - Xuất khẩu trực tiếp: Xuất khẩu trực tiếp là hình thức doanh nghiệp trực tiếp bán cho người mua ở nước ngoài, không thông qua trung gian, nghĩa là với tư cách người bán, doanh nghiệp không mất các khoản chi phí cho bên thứ ba.
Một số doanh nghiệp có thể mở chi nhánh ở nước ngoài tại quốc gia mà họ dự định mở rộng hoặc có đại diện kinh doanh tại nước của họ. + Ưu điểm: Lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được thường cao hơn các hình thức khác do giảm được các chi phí trung gian. Doanh nghiệp có điều kiện phát huy tính độc lập của mình trong việc tiêu thụ hàng hoá sản phẩm của mình. + Nhược điểm: Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu phải có lượng vốn khá lớn ứng trước để mua hàng hoặc sản xuất.
Bên cạnh đó hình thức này có mức độ rủi ro lớn, doanh nghiệp không có cán bộ xuất nhập khẩu đủ trình độ và kinh nghiệm khi tham gia ký kết hợp đồng ở một thị trường mới sẽ dễ mắc phải sai lầm gây bất lợi cho mình. - Xuất khẩu ủy thác: Đây là loại hình xuất khẩu mà ở đó một bên trung gian nhận ủy thác từ đơn vị xuất khẩu sẽ đóng thay chính doanh nghiệp sản xuất đó, tiến hành ký kết hợp đồng với bên đối tác nước ngoài và nhận được phí ủy thác. + Ưu điểm: Mức độ rủi ro cho doanh nghiệp ủy thác thấp hơn khi người nhận uỷ thác hiểu rõ thị trường xuất khẩu, có khả năng đẩy mạnh việc buôn bán. Chi phí cho việc bán hàng ở thị trường nước ngoài cũng thấp hơn do bên trung gian đã có sẵn cơ sở hạ tầng và mối quan hệ trong việc xuất khẩu, doanh nghiệp xuất khẩu có thể tiết kiệm được chi phí cho việc tiếp cận thị trường nước ngoài và quảng cáo sản phẩm.
+ Nhược điểm: Thứ nhất, khả năng chớp lấy cơ hội không cao do doanh nghiệp xuất khẩu không trực tiếp tham gia vào việc tìm kiếm và khai thác cơ hội thị trường, họ có thể bỏ lỡ những cơ hội xuất khẩu quan trọng. Thứ hai, doanh nghiệp xuất khẩu ít có cơ hội tiếp xúc với khách hàng và thị trường, từ đó làm giảm sự hiểu biết về nhu cầu và xu hướng của thị 13 trường. Thứ ba, lợi nhuận bị chia sẻ do doanh nghiệp xuất khẩu phải chia sẻ một phần lợi nhuận với bên trung gian, làm giảm tỷ lệ lợi nhuận thu về. - Gia công xuất khẩu: Gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất mà công ty trong nước nhận tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu) từ công ty nước ngoài để sản xuất hàng hóa dựa trên yêu cầu của bên đặt hàng.
Hàng hóa làm ra sẽ được bán ra nước ngoài theo chỉ định của công ty đặt hàng. + Ưu điểm: Đối với bên đặt gia công, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí do chi phí thuê gia công thường thấp hơn so với việc sản xuất trực tiếp tại quốc gia nơi mà doanh nghiệp đặt trụ sở. Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho lao động trong nước hoặc nhập được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình. + Nhược điểm: Tuy nhiên để thực hiện xuất khẩu hàng hóa theo hình thức này, doanh nghiệp phải xây dựng được mối quan hệ với các khách hàng đặt gia công có uy tín.
Đây là hình thức phức tạp, nhất là quá trình thỏa thuận với bên gia công về số lượng, chất lượng, nguyên vật liệu, tỷ lệ thu hồi thành phẩm và giám sát quá trình gia công. Do đó, các cán bộ kinh doanh phải am hiểu tường tận về các nghiệp vụ và quá trình gia công sản phẩm. - Xuất khẩu tại chỗ: Trong trường hợp này, hàng hóa và dịch vụ chưa vượt qua ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu. Do vậy nhà xuất khẩu không cần phải thâm nhập thị trường nước ngoài mà khách hàng tự tìm đến nhà xuất khẩu.
Đó là việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc tế. Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể mang lại hiệu quả cao khi chi phí bao bì đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải được cắt giảm, thời gian thu hồi vốn lại nhanh. Mặt khác với sự ra đời của hàng loạt khu chế xuất ở các nước, đây càng là hình thức xuất khẩu có hiệu quả, cần được các nước chú trọng hơn nữa. - Tạm xuất tái nhập, tạm nhập tái xuất: Đây là hình thức mà hàng hóa chỉ tạm thời được đưa vào lãnh thổ Việt Nam rồi sau đó lại được xuất sang nước khác (tạm nhập tái xuất), 14 hoặc hàng trong nước được tạm xuất ra nước ngoài và sau một thời gian nhất định lại được nhập về (tạm xuất tái nhập).
+ Ưu điểm: Doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng máy móc, thiết bị, khả năng thu hồi vốn cũng nhanh hơn. + Nhược điểm: Kinh doanh tái xuất đòi hỏi sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ trong các hoạt động mua bán. Do vậy, doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu theo phương thức này phải có được đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao.