CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Cratoxylum 1. Vị trí phân loại chi Cratoxylum Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan 2009: chi Cratoxylum thuộc họ Ban, bộ Ban, ngành Ngọc lan. Giới: Plantae Ngành: Tracheophyta Lớp: Magnoliopsida Phân lớp: Dilleniidae Bộ: Hypericales Họ: Hypericaceae Chi: Cratoxylum [43] Theo tài liệu Thực vật Chí Trung Quốc: chi Cratoxylum được xếp vào họ Măng cụt (Clusiaceae) [49].
Đặc điểm thực vật và phân bố của chi Cratoxylum 1. Đặc điểm thực vật của chi Cratoxylum Cây gỗ hay cây bụi. Lá nguyên, có cuống hoặc gần như không cuống. Cụm hoa ở nách lá hay ở ngọn thành chùy.
Lá đài 5, dai, và tồn tại trên quả nang. Cánh hoa 5, màu trắng, hồng hoặc đỏ kèm theo vẩy gốc hay không, ở bên trong, và dính với cánh. Tuyến 3-5, áp trên lưng của các lá noãn, nạc. Nhị nhiều, thành 3-5 bó có cuống, cuống hình dải, dài bằng hoặc ngắn hơn chỉ nhị rời, chỉ nhị xếp trên một hoặc nhiều dãy, bao phấn nhỏ, hướng ngoài.
Bầu có 3 ô, với 3 vòi nhụy rời, dạng sợi. Quả nang có 3 van mang theo vách, hạt 4 hoặc nhiều trong mỗi ô, đính trên những giá noãn, mọc đứng, có cánh [8]. Phân bố của chi Cratoxylum Chi Cratoxylum được biết là có nguồn gốc từ Đông Nam Á, với sáu loài được chấp nhận: C. Chúng được phổ biến rộng rãi ở khu vực Đông Nam Á, bao gồm các nước như Malaysia, Singapore, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan.
Chúng cũng được tìm thấy ở các nước châu Á như Ấn Độ và Trung Quốc [19]. Ở Việt Nam: Chi Cratoxylum có 5 loài phân bố khắp nước ta từ Bắc vào Nam, nhưng phân bố chủ yếu ở các tỉnh Trung Bộ và Tây Nguyên [13]. Tình hình nghiên cứu hóa thực vật của chi Cratoxylum Các nghiên cứu đã chỉ ra một số hợp chất được phân lập từ chi Cratoxylum có khung 2 xanthone (α-mangostin, formoxanthon A,.), khung flavonoid, khung anthraquinon, khung terpen. Tổng quan về loài Cratoxylum formosum (Jack) Benth.
Đặc điểm thực vật, phân bố Mô tả: Loài Cratoxylum formosum chia thành hai dưới loài gồm Cratoxylum formosum subsp. pruniflorum (Kurz) Gogelein) và Cratoxylum formosum subsp. Tại Việt Nam, loài được gọi với các tên như : Đỏ ngọn, Thành ngạnh, Lành ngạnh, Vàng la, Cúc lương, Hoàng ngưu trà, Voòng a mộc, Mạy tiên (Tày), Co kín lang (Thái) [4]. Cây Đỏ ngọn là loại cây nhỏ, phần gốc có gai (trong rừng lâu năm cây có thể cao và to), cành non có lông tơ, màu đỏ nên gọi là đỏ ngọn.
Lá hình mác dài 12–13 cm, rộng 3,5–4 cm, mọc đối xứng, cuống ngắn 3–5 mm, gốc tròn, đỉnh tù hoặc nhọn. Mặt gân chính màu đỏ đến 1/3 lá non, gân lá và lá có màu đỏ đến quá nửa. Hoa mọc trên những cành ở kẽ lá màu trắng hoặc hồng có lông màu tía. Quả nang dài 15 mm, rộng 7–8 mm.
Hạt hình trứng dài 6 mm, rộng 3 mm [16], [49]. Phân bố: Tại Việt Nam, cây mọc hoang tại các tỉnh miền Bắc, nhất là mọc trên các đồi trọc của vùng trung du. Ngoài ra, loài có ở Malaysia, Indonesia, Lào, Thái Lan, Campuchia,. Nghiên cứu hóa thực vật Bảng 1.
Một số nghiên cứu hóa thực vật của loài STT Các hợp chất được phân lập TLTK 1. Nhóm - Flavan: catechin-3-O-(3,4- dihydroxybenzoyl) (1) [17], Flavonoid - Flavonol và flavonol glycosid: quercetin (2), quercitrin (3), [31], hyperin (quercetin-3-O-β-galactopyranoside) (4) , afzelin [38], (kaempferol-3-O-rhamnoside) (5), isoquercetin (quercetin-3- [41], O-β-glucopyranoside) (6) 3 2. R1 = H, R2 = glucose Kaempferol 3-O-α-L-arabinopyranoside (7), Kaempferol 3-O- α-L-rhamnopyranoside (8), Quercetin 3-O-α-L- arabinofuranoside (9) 7. Nhóm Các prunifloron được đánh số từ 1 đến 10.
Công thức của [20], Xanthon chúng có cấu trúc: [27] R1≠ R2 và đều là gốc ankyl hoặc dẫn xuất của nó; R: H hoặc CH3 Tên của chúng lần lượt là: 1. Bộ phận dùng và tác dụng dược lý 1. Bộ phận dùng Lá, vỏ thân, rễ, hoa, thân, quả, cành đều có thể sử dụng. Đỏ ngọn được thu hái quanh năm, dùng tươi hay ủ rồi phơi khô.
Tại Việt Nam, bộ phận được nghiên cứu và sử dụng 5 chủ yếu là lá [4],[16],[19]. Tác dụng chống oxy hóa Dịch chiết lá Đỏ ngọn (1/16) có tác dụng chống oxy hóa mạnh, hoạt tính chống oxy hóa đạt 69% [16]. Hoạt tính sinh học của các hợp chất phân lập được đánh giá bằng cách đo hoạt tính bắt gốc tự do DPPH. Các xanthon cho thấy hơn 50% hoạt tính nhặt gốc tự do DPPH ở 50 μM.
Xem xét cấu trúc, các nhóm dihydroxy rất quan trọng đối với hoạt động chống oxy hóa của xanthon. Đối với flavonoid, các flavonoid cho thấy hoạt tính chống oxy hóa tốt. Dịch chiết lá, rễ, thân Đỏ ngọn đều có tác dụng chống oxy hóa, trong đó lá thể hiện rõ ràng nhất với hoạt tính chống oxy hóa (IC50) là 14,9 µg/ml [17]. Choi cùng các cộng sự (2014), nghiên cứu in vitro dịch chiết Đỏ ngọn trên các flavonoid đã được phân lập: quercitrin và glycosid của quercitrin (quercitrin, hyperin, isoquercitrin, afzelin), cho thấy khả năng chống oxy hóa của chúng rất rõ ràng.
Trong đó, tác dụng loại bỏ gốc tự do mạnh nhất là hợp chất isoquercitrin tại nồng độ 1 µl [38]. Hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết Đỏ ngọn được báo cáo bởi Sripanidkulchai cùng các cộng sự (2010) trên chuột nhắt trắng. Có nồng độ hiệu quả ở mức 10,5 µg/ml, gấp khoảng 3 lần so với acid ascorbic và α-tocopherol (chất chống oxy hóa tiêu chuẩn). Tuy dịch chiết có hoạt tính chống oxy hóa thấp hơn chất chống oxy hóa tiêu chuẩn nhưng nó chứa hàm lượng phenolic cao với nồng độ đương lượng acid gallic là 161,7 ± 2,7 mg/g [42].
Tác dụng chống viêm Choi cùng các cộng sự (2014), nghiên cứu in vitro dịch chiết Đỏ ngọn trên các flavonoid đã được phân lập: quercitrin và glycosid của quercitrin (quercitrin, hyperin, isoquercitrin, afzelin), đồng thời cho thấy khả năng chống viêm bởi khả năng ngăn chặn sản sinh NO của đại thực bào được kích thích bằng LPS đã được phân tích bằng đầu dò huỳnh quang. Hiệu quả của quercetin là cao nhất trong các hợp chất thử nghiệm [38]. Tác dụng lên hệ thần kinh Cao Đỏ ngọn có tác dụng hoạt hóa hệ thần kinh, trong đó có hệ thần kinh thực vật, biểu hiện ở sự tăng hàm lượng catecholamin trong máu và tăng nhẹ thành phần sóng beta trên điện não đồ ở thỏ uống thuốc [16]. Dịch chiết Đỏ ngọn có tác dụng làm tăng khả năng thành lập phản xạ có điều kiện và dập tắt phản xạ trên chuột nhắt trắng và như vậy làm tăng các quá trình hưng phấn và ức chế có điều kiện trên động vật thí nghiệm [16].
Tác dụng chống đái tháo đường Dịch chiết lá, rễ, thân Đỏ ngọn đều có tác dụng ức chế α-glucosidase, thể hiện tác dụng mạnh hơn ở lá và thân. Hoạt tính ức chế α-glucosidase (IC50) ở rễ và lá lần lượt là 2,0 µg/ml và 3,9 µg/ml [17]. α-glucosidase là enzym quan trọng trong cơ chế điều hòa nồng độ đường huyết, là một trong các đích điều trị đái tháo đường hiện nay. Tác dụng lên tế bào ung thư Tại Thái Lan, Boonnak và các cộng sự cho thấy dịch chiết từ Đỏ ngọn ức chế sự phát triển của ung thư miệng, ung thư cổ tử cung, ung thư đường mật.
Tác dụng được nghiên cứu trên dịch chiết Đỏ ngọn bằng các dung môi hữu cơ, sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Dịch chiết bằng methanol và ethyl acetat có hàm lượng acid gallic và quercetin cao, catechin được tìm thấy trong dịch chiết nước [35], [36], [39]. Tương tự, Buranrat và các cộng sự (2017) đã nghiên cứu và chứng minh hàm lượng phenolic và flavonoid (bằng cách sử dụng acid gallic và rutin) trong dịch chiết từ cây Đỏ ngọn có tác dụng chống ung thư vú [22]. Năm 2014, Nonpunya cùng cộng sự của mình chứng minh rằng dịch chiết Đỏ ngọn phá vỡ tế bào ung thư gan HepG2 ở người bằng cách hình thành apoptosis [33].
Sử dụng trong y học cổ truyền Tính vị, công năng: Đỏ ngọn có vị đắng chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiêu hóa. Công dụng: - Lá được dùng phổ biến làm thuốc theo kinh nghiệm dân gian, lá thái nhỏ, sắc uống thay chè có tác dụng phòng cảm nắng và chữa bệnh kiết lỵ [16]. - Phụ nữ sau khi đẻ, lấy lá Đỏ ngọn nấu nước uống với liều lượng mỗi ngày 15-30 g giúp tiêu hóa, ăn ngon (có thể thêm lá Vối) hoặc phối hợp với lá Thanh cao hoa vàng, sắc uống để chữa sốt, mồ hôi trộm, chân tay bải hoải [13], [16]. - Dùng ngoài: Lá Đỏ ngọn giã nát, trộn với nước vo gạo đặc, đắp chữa bỏng [16].
Năm 2001, nhóm nghiên cứu của Học viện Quân Y - Hà Nội đã phát hiện rằng cây Đỏ ngọn ít độc, và dịch chiết từ lá và thân cây có khả năng chống oxy hóa tốt, cũng như có tác dụng hoạt huyết và làm lưu thông máu, giảm đông máu ở những trường hợp tăng đông. Dựa trên nghiên cứu này, Học viện Quân Y đã phát triển sản phẩm trà thực phẩm chức năng TANAKA từ cây Đỏ ngọn. Sản phẩm này đã được Bộ Y tế Việt Nam cấp phép lưu hành trên toàn quốc với số đăng ký 4375/2008/YT-TPCN. Điều này chỉ ra rằng 7 sản phẩm đã được kiểm định và an toàn để sử dụng, cung cấp lợi ích cho sức khỏe của người tiêu dùng [6].
Tại Nhật Bản, từ rễ cây của một số loài thuộc chi Cratoxylum người ta bào chế thành thuốc làm tăng trí nhớ, chống lão hoá, mất ngủ ở người già. Ở Trung Quốc, lá của cây Đỏ ngọn được chế biến thành trà pha nước uống hàng ngày vì chứa các xanthone có tác dụng kháng khuẩn, chống vi khuẩn của muỗi gây sốt vàng da, vượt trội hơn so với chất rotenone [30]. Trong dân gian Việt Nam, cây Đỏ ngọn mới thấy dùng trong phạm vi nhân dân làm thuốc kích thích tiêu hóa, phục hồi sức khoẻ khi ốm dậy, sinh đẻ, bảo vệ thành mạch, chống lão hoá, tăng trí nhớ ở người cao tuổi. Người ta thu hái lá Đỏ ngọn vào dịp tháng 5 để nấu nước uống hoặc có thể ủ sau đó đem phơi khô mới dùng [9].
Tại cơ sở sản xuất Saman ở Thái Nguyên, Bác sĩ Hoàng Sầm đã sử dụng dịch chiết của lá Đỏ ngọn để làm thực phẩm chức năng, thay chè làm nước uống, chữa một số bệnh như: ngứa, ghẻ lở, zona thần kinh, mất ngủ, miệng đắng ăn không ngon, giảm trí nhớ… 1. Một số quan điểm tiếp cận và hướng dẫn về xây dựng tiêu chuẩn dược liệu 1. Khái niệm Tiêu chuẩn cơ sở dược liệu là một tập hợp các phép thử, phép tham chiếu và quy trình phân tích thiết lập các tiêu chí mà dược liệu phải tuân theo để được coi là đạt tiêu chuẩn cho mục đích sử dụng của nó [45].