MỞ ĐẦU Ngày nay, xã hội càng phát triển thì nhận thức về sức khỏe của con người càng được quan tâm nhiều hơn. Do đó, các ngành liên quan đến sức khỏe nói chung và ngành Dược nói riêng càng phát triển hơn để phù hợp với sự đi lên của xã hội. Để đáp ứng được nhu cầu dùng thuốc để trị bệnh thì thuốc có nguồn gốc hóa dược đã có nhiều bước tiến vượt bậc với những thành tựu khổng lồ với ưu điểm nổi trội là tác động nhanh, mạnh, nhưng vẫn tồn tại các tác dụng phụ lên gan, thận, dạ dày - tá tràng… Bên cạnh đó, thuốc nguồn gốc từ thảo dược lại an toàn, dung nạp tốt không gây tác dụng phụ như thuốc có nguồn gốc hóa dược nên thuốc nguồn gốc từ thảo dược đang được đầu tư nghiên cứu nghiêm túc hơn. Vì vậy, thuốc có nguồn gốc từ thảo dược thiên nhiên đang dần trở thành xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới.
Việt Nam là 1 quốc gia trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có điều kiện tự nhiên đa dạng với diện tích che phủ rừng chiếm hơn 40%. Nhờ đó mà nước ta có mức độ đa dạng sinh học cao với nhiều loại động - thực vật có thể dùng làm thuốc. Lợi thế về khí hậu và thổ nhưỡng - đất đai đã tạo tiền đề tốt để nước ta phát thuốc từ dược liệu. Nước ta hiện có 4.000 loài cây thuốc, hơn 50 loài tảo biển, 75 loài khoáng vật và gần 410 loài động vật làm thuốc, trong đó có nhiều loại dược liệu quý được thế giới công nhận như cây hồi, quế, sâm Ngọc Linh.
1 Cây Đậu biếc (Clitoria ternatea) là 1 loại thảo dược có nguồn gốc từ vùng Caribe, Trung Mỹ và Mexico. Sau đó được trồng nhiều ở miền nam Ấn Độ để ứng dụng vào y học cổ truyền2. Cây Đậu biếc là loài cây thân thảo, thân và cành mảnh có lông. Cây Đậu biếc thường mọc hoang với những bông hoa leo ở bờ rào và để lấy quả.
Có nơi trồng rất nhiều dùng làm cây phân xanh, cây che phủ đất và cải tạo đất. Cây chịu nắng và hạn, được trồng bằng hạt. Hoa có nhiều màu như trắng, tím, hồng và đặc trưng nhất là màu xanh dương. Ngoài tác dụng là chất màu thiên nhiên được sử dụng khá an toàn trong thực phẩm, tạo ra được nhiều màu sắc hấp dẫn cho mỗi sản phẩm.
Cây còn có tác dụng chống oxy hóa và tác dụng sinh học quý như kháng viêm, chống dị ứng, chống loét dạ dày và hành tá tràng, giúp cơ thể điều hòa các quá. trình chuyển hóa, chống lão hóa, giúp bền thành mạch máu, giảm lượng cholesterol trong máu, chống ung thư, chống co giật, giảm đau, nghẽn mạch, nghẽn phế quản, lợi mật, diệt nấm ….3 Tuy nhiên, cho tới nay những nghiên cứu về thành phần hoá học, tác dụng dược lý của cây Đậu biếc ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, hầu như chưa có tiêu chuẩn đầy đủ nào để làm thước đo đánh giá chất lượng dược liệu này. Việc xây dựng tiêu chuẩn để định danh, kiểm nghiệm dược liệu và xác định hàm lượng các thành phần có tác dụng dược lý trong dược liệu là việc làm rất cần thiết, góp phần vào việc đảm bảo chất lượng nguồn nguyên liệu, chống sử dụng nhầm lẫn dược liệu. Do đó đề tài: “Phân lập và xác định cấu trúc của hợp chất chiết từ cao có hoạt tính chống oxy hóa của hoa cây Đậu biếc (Clitoria ternatea, Fabaceae)” được tiến hành thực hiện nhằm bước đầu chứng minh giá trị sử dụng của dược liệu này với các mục tiêu như sau: 1.
Định danh dược liệu Đậu biếc 2. Thử tác dụng chống oxy hóa in vitro của cao toàn phần và các cao phân đoạn chiết từ hoa Đậu biếc. Phân lập và xác định cấu trúc của hợp chất chiết từ cao có tác dụng chống oxy hóa. Tổng quan về thực vật học 1.
Vị trí phân loại Vị trí của Cilitoria ternatea trong phân loại theo Armen Takhtajan (2009) như sau:4 Giới thực vật (Plante) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa hồng (Rosidae) Liên bộ Đậu (Fabanae) Bộ Đậu (Fabaes) Họ Đậu (Fabaceae) Chi Đậu biếc (Clitoria) Loài Clitoria ternatea 1. Đặc điểm thực vật học của cây Đậu biếc 1. Đặc điểm thực vật Tên Việt Nam: Đậu biếc 5 Tên khoa học: Clitoria ternatea L. – phân họ Đậu (Faboideae) – họ Đậu (Fabaceae)5,6.
Cây thảo leo. Thân và cành mảnh có lông. Lá kép lông chim lẻ, có 5-7 lá chét hình trái xoan, có lông rải rác ở cả hai mặt. Hoa màu xanh lơ hoặc trắng, mọc đơn độc ở nách lá; đài hình ống; cánh cờ có viền giữa màu da cam; nhị 10, xếp 2 bó; bầu có lông.
Quả màu hung, hình dải; hạt 5-10, hình thận, dẹt, có những chấm màu lục và màu đen.1 Cây Đậu biếc5 (1. Cành lá mang hoa; 2. Phân bố, sinh thái, bộ phận dùng Nguồn gốc và sinh thái: loài cây nhiệt đới, mọc ở trảng cỏ, trảng cây bụi và được trồng ở các vườn gia đình làm cây cảnh từ vùng thấp lên tới vùng cao 1500 m7. Ra hoa tháng 6 - 8, có quả tháng 9 – 117.
Mọc hoang và trồng khắp Việt Nam, có lẽ gốc Nam Mỹ.5 Phân bố: Quảng Ninh, Hà Nội, Ninh Bình, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippin, Úc.7 Bộ phận dùng: rễ, hạt và lá - Radix, Semen et Folium Clitoriae ternatae. Tổng quan về thành phần hoá học 1.
Thành phần hoá học của cây Đậu biếc 1. Hoa Dịch chiết ethanol, methanol, cloroform, acetonitril, aceton, ethyl acetat, n- butanol, nước, n-hexan và diethyl ether có chứa anthocyanin nhiều nhất và tối ưu nhất với dịch chiết ethanol. Dịch chiết hoa Đậu biếc với dung môi methanol có chứa anthocyanin (Ternatin A1, B2, B3, C2, D2, D3, dẫn xuất delphinidin), kaempferol 3- neohesperidosid và quercetin 3-(2G)-rhamnosylrutinosid, rutin, acid ellagic. 3 chiết ethyl acetat và hexan (1:1) có nhiều acid béo (acid palmitic, acid stearic, acid petroselinic, acid linoleic, acid arachidic, acid behenic và acid phytanic), phytosterol (campesterol, stigmasterol, β-sitosterol và sitostanol) và α-tocopherol, γ-tocopherol.
Trong dịch chiết ethanol 40 % và 50 % có thành phần flavonoid, phenolic 8. Hoa Đậu biếc chứa glycosid flavonol, quercetin và các hợp chất phenolic, 3-O-(2"-O-- rhamnosyl-6"-O-malonyl)--glucosid, 3-O-(6"-O--rhamnosyl-6"-O-malonyl)-- glucosid và 3-O-(2",6"-di-O--rhamnosyl)--glucosid của kaemferol, quercetin và myricetin được phân lập từ cánh hoa, kaempferol 3-O-(2"-O--rhamnosyl-6"-O- malonyl)--glucosid, quercetin 3-O-(2"-O--rhamnosyl-6"-O-malonyl)--glucosid và myricetin 3-O-(2",6"-di-O--rhamnosyl)--glucosid, quercetin 3-(2(G)- rhamnosylrutinosid), kaempferol, quercetin, myricetin 3-neohesperidosid, 3- rutinosid và 3-glucosid. Lá Lá Đậu biếc chiết xuất với ethanol có chứa kaempferol 3-monoglucosid, 3- rutinosid, 3-neohesperidosid, 3-O-rhamnosyl-glucosid, 3-O-rhamnosylgalactosid, kaemferol 3-O-rhamnosylorhamnosylglucosid, β-sitosterol.7 Ngoài ra, còn có tannin, taraxerol, taraxeron, alkaloid, ternatin, saponin và flavoinoid như: anthocyanin, kaempferol 3-glucosid, quercetin 3-glucosid và myricetin 3-glucosid, quercetin 3- (2G)-rhamnosylrutinosid, kaempferol 3-neohesperidosid, myricetin 3- neohesperidosid, kaempferol 3-rutinosid, kaempferol 3-(2G)-rhamnosylrutinosid, myricetin 3-glucosid, kaempferol 3-O-(2ʺ-O-α-rhamnosyl-6ʺ-O-malonyl)-β- glucosid, quercetin 3-O-(2ʺ-O-α-rhamnosyl-6ʺ-O-malonyl)-β-glucosid và myricetin 3-O-(2"-O-α-rhamnosyl-6"-O-malonyl)-β-glucosid. Hạt Hạt Đậu biếc có chứa acid tanic và glucose, sitosterol và anthoxanthin.
Ngoài ra, dầu hạt còn có acid palmitic, stearic, oleic, linoleic và linolenic. Hạt cũng chứa acid cinnamic, hexacosanol 9. Hạt chứa hàm lượng protein và acid béo, còn chứa acid p-hydroxycinnamic, β-sitosterol, γ-sitosterol, adenosin, flavonol-3-glycosid, ethyl-α-. 4 D-galactopyranosid, 3,5,7,4′-tetrahydroxyflavon-3-rhamnoglucosid, hexacosanol và anthoxanthin glucosid.
Rễ Rễ cây Đậu biếc có chứa taraxerol và taraxeron, vỏ rễ chứa nhựa, tanin, glycosid flavonol, nốt rễ chứa glycin, alanin, leucin, acid α-aminobutyric, acid aspartic, acid glutamic, arginin, ornithin, histidin, acid γ-aminobutyric9. Ngoài ra còn chứa, triterpenoid pentacyclic, 3,5,4′-trihydroxy-7-methoxyflavonol-3-O-β-D- xylopyranosyl-(1,3)-O-β-D-galactopyranosyl (1,6)-O-β-D-glucopyranosid. Cấu trúc một số hợp chất có trong Đậu biếc. Tác dụng dược lý và công dụng của cây đậu biếc 1.
Tác dụng chống oxy hoá Các nghiên cứu khác nhau đã tìm ra hoạt động chống oxy hóa của hoa C.ternatea bằng cách sử dụng các thử nghiệm chống oxy hóa như khả năng bắt gốc tự do 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH), năng lực chống oxy hoá khử sắt (Ferric Reducing Antioxidant Power - FRAP), khả năng hấp thụ gốc tự do (Oxygen Radical Absorbance Capacity - ORAC), khả năng thải ion sắt, khả năng ức chế men xanthine oxidase và khả năng khử Cu2+.ternatea đã được chứng minh là có hoạt tính chống oxy hóa mạnh.12 Thử nghiệm chống oxy hoá của dịch chiết methanol từ hoa bằng phương pháp ngâm có IC50 = 327 μg/mL, cao hơn vitamin E 13. Ngoài ra dịch chiết nước từ hoa có IC50 = 470 μg/mL qua phương pháp DPPH và giá trị ORAC là 17,54 μg trolox/mg bột khô dược liệu 14. Bên cạnh đó các phương pháp chiết khác nhau sẽ ảnh hưởng đến hoạt tính chống oxy hoá như dịch chiết nước từ hoa được hỗ trợ bằng sóng siêu âm (US) và chiết dịch nước từ hoa bằng nhiệt ở 50C (AGE) cho kết quả theo phương pháp DPPH (IC50 của US = 931,5 μg/mL; AGE = 764,3 μg/mL), theo phương pháp FRAP (US = 5834,6 μg nồng độ trolox/g cao chiết; AGE = 4195,3 μg nồng độ trolox/g cao chiết), theo phương pháp năng lực khử (US = 4539 μg nồng độ trolox/g cao chiết; AGE = 6145,1 μg nồng độ trolox/g cao chiết), theo phương pháp khử Cu2+ (US = 12696 μg nồng độ trolox/g cao chiết; AGE = 9549 μg nồng độ trolox/g cao chiết) và phương pháp ức chế xanthin oxidase (IC50 của US = 1,01 mg/mL; AGE = 1,22 mg/mL). Tác dụng kháng khuẩn Kamilla và cộng sự (2009) đã tiến hành xác định hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm bằng dịch chiết của các bộ phận dùng rễ, thân, lá, hoa, hạt từ loài C.
Kết quả cho thấy các dịch chiết đều ức chế được vi khuẩn gram dương. thuringiensis, Staphylococcus aureus, Streptococcus faecalis) và gram âm (Echerichia coli, Klebsiella spp., Pseudomonas aeruginosa, Salmonella typhi, Enterobacter aerogens, Proteus mirabilis, Herbaspirillum spp.) bằng phương pháp khuếch tán qua thạch (9-28,7 mm). Ngoài ra, xác định được MIC và MBC của dịch chiết lá (3,125 – 100 mg/mL), hạt (3,125 – 100 mg/mL) và rễ (dưới 0,312 – 100 mg/mL)16. Các dịch chiết nước, methanol, cloroform của hoa C.ternatea cũng thể hiện được hoạt tính kháng khuẩn với các chủng Echerichia coli, ETEC (Enterotoxigenic E.coli), EPEC (Enteropathogenic E.coli), Klebsiella pneumoniae và Pseudomonas aureginosa và xác định MIC và MBC của các dịch chiết lần lượt là nước (5/2,5; 10/5; 10/5; 5/2,5 và 5/2,5 mg/mL), methanol (1,25/0,625; 2,5/1,25; 2,5/1,25; 1,25/0,625 và 1,25/0,625 mg/mL) và cloroform (5/2,5; 5/2,5; 5/2,5; 2,5/2,5 và 2,5/2,5 mg/mL).17 Hoạt tính kháng nấm từ dịch chiết từ các bộ phận bằng methanol đã được xác định với các chủng nấm (Candida albicans, Saccharomyces cerevisiae, Rhizopus, Aspergillus niger, Penicillium spp.), trong đó hoạt tính cao nhất là dịch chiết từ rễ và lá của C.
Công dụng của Đậu biếc trong y học cổ truyền Tính vị, tác dụng: rễ có vị chát đắng, có tác dụng lợi tiểu, nhuận tràng, gây xổ, làm dịu và săn da. Vỏ rễ cũng lợi tiểu và nhuận tràng. Hạt có tác dụng xổ và lá có tác dụng tiêu viêm, giảm đau.7 Rễ dùng giải nhiệt, chữa bệnh tiêu chảy của trẻ em. Ở Indonesia, dùng trị bệnh lao phổi, đau ngực, ho và viêm lở ngoài da.