CHƯƠNG 1 DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Phát triển năng lực của học sinh trong dạy học Vật lý.1 Dạy học Vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực.[2] Năng lực ( competence) có nguồn gốc tiếng La tinh là “ competentia” có nghĩa là “ gặp gỡ”. Trong tiếng anh, từ năng lực được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong các tình huống và ngữ cảnh riêng.
Cũng giống như tiếng anh, trong tiếng việt từ năng lực gần nghĩ giống tiềm năng, khả năng, kĩ năng, tài năng có khi gần nghĩa với năng khiếu. Điểm chung ở hầu hết về khái niệm năng lực đã được đưa ra từ trước đến nay đều nhấn mạnh về khả năng của cá nhân khi thực hiện hoạt động nào đó. Chúng ra thấy rõ sự thể hiện của năng lực là khả năng hoạt động và kết quả của hoạt động đó mang lại [4]. Từ những khái niệm về năng lực ta nhận thấy rằng năng lực của mỗi cá nhân là khác nhau.
Như vậy, năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân, nhờ thuộc tính này mà con người chỉ cần bỏ ít sức lao động nhưng vẫn hoàn thành tốt một hoạt động nào đó. Trong quá trình dạy học thì năng lực của người học sẽ là mục tiêu để giáo dục hướng đến. Do đó để phát triển năng lực người học thì cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng khác nhau. Từ đó, chúng tôi thống nhất và đưa ra khái niệm năng lực như sau: “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của cá nhân vào việc giải quyết các tình huống đặt ra để thu được kết quả có chất lượng cao”.
Phân loại năng lực Chia làm 2 loại năng lực 6 1. Năng lực chung ( general competence) [2],[4] Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. Năng lực chung được chia làm 3 phạm trù có sự tương đồng với nhau: - Năng lực tự chủ và phát triển bản thân gồm: Tự học; giải quyết vấn đề; sáng tạo; tự quản lý. Ví dụ: thông qua việc giải quyết những nhiệm vụ học tập, học sinh được đặt vào tình huống phải tự tìm tòi để tìm ra câu trả lời cho nhiệm vụ đặt ra, qua đó sẽ hình thành ở HS năng lực giải quyết vấn đề.
Trong học tập, nếu GV định hướng cho HS quan sát, thu thập xử lí thông tin và phát hiện vấn đề đặt ra, đề xuất được phương án giải quyết vấn đề, thực hiện phương án đặt ra để rút ra Bài trả lời.sẽ phát triển được ở các em năng lực sáng tạo. Ngoài ra, GV cũng cần biết lựa chọn những câu hỏi, bài tập mang tính ứng dụng thực tế. - Nhóm năng lực về quan hệ xã hội: giao tiếp, hợp tác. Ví dụ: qua việc giải quyết những hoạt động học tập theo nhóm, những tình huống thực tế liên quan đến kĩ năng sống như an toàn điện, nước.
- Nhóm năng lực sử dụng các công cụ tương tác với môi trường Ví dụ: học sinh sử dụng công nghệ thông tin để giải quyết những nhiệm vụ học tập, những tình huống trong thực tế. Sử dụng phần mềm chuyên dụng để mô hình hóa quá trình Vật lý hay sử dụng phần mềm vẽ hình học, vẽ đồ thị. Năng lực riêng ( specific competence )[2],[4]; Năng lực riêng là năng lực cụ thể, chuyên biệt được hình thành và phát triển do một lĩnh vực cụ thể gọi là năng lực môn học cụ thể, để phân biệt với năng lực chung. Ví dụ: Năng lực sáng tạo là năng lực chung, đòi hỏi phải quán triệt thực hiện ở tất cả các môn học và hoạt động giáo dục; Năng lực đọc diễn cảm là năng lực riêng, ở 7 Việt Nam năng lực đọc diễn cảm do môn Tiếng việt và môn Ngữ văn đảm nhận.
Trong cuộc sống cần có năng lực sáng tạo; không sáng tạo thì không thể phát triển, khó tồn tại. Bảng 1: Năng lực đặc thù của môn Vật lý [4] Tên năng lực Mức độ Hành vi Nhóm năng lực liên [K1] Tái hiện + Xác định được những kiến thức Vật lý quan đến sử dụng kiến thức nào liên quan đến đối tượng đã được học. kiến thức Vật lý (K) + Trình bày được kiến thức Vật lý đã học. [K2] Hiểu và vận + Hiểu nội dung những kiến thức đã tái dụng kiến thức hiện.
+ Lựa chọn đúng những kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề trong học tập. + Vận dụng thành công các kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề trong học tập. + Liên kết giữa kiến thức mới và cũ K3] Chuyển tải + Giải thích được các hiện tượng ngoài kiến thức vào thực tế bằng các kiến thức đã học. thực tiễn + Ứng dụng kiến thức Vật lý để suy diễn nguyên lý hoạt động của thiết bị thực tế.
+ Nhận ra các mâu thuẫn trong thực tế với lí thuyết đã học. Năng lực thực [N1] Tình huống + Đặt ra câu hỏi liên quan đến vấn đề đã nghiệm thực tế phát hiện. [N2]Giải quyết + Dự đoán những câu trả lời liên quan 8 vấn đề đến vấn đề Vật lý phát hiện. + Đưa ra các căn cứ đã dự đoán.
[N3]Tiến hành thí + Xây dựng phương án thí nghiệm nghiệm kiểm tra + Tiến hành thành công thí nghiệm. + Đọc được giá trị, biết ghi kết quả thí nghiệm một cách khoa học. + Biết xử lí số liệu thí nghiệm (vẽ đồ thị, tính trung bình, sai số, …) để tìm ra quy luật. Năng lực trao đổi [T1] Tìm kiếm + Xác định được thông tin muốn tìm thông tin thông tin kiếm.
+ Sử dụng và lựa chọn thông tin chính xác [T2] Diễn đạt + Diễn đạt được vấn đề Vật lý bằng ngôn thông tin ngữ Vật lý. + Nhận xét được thông tin về vấn đề có phù hợp với ngôn ngữ diễn đạt của Vật lý chưa. + Phân biệt được các thuật ngữ Vật lý và thuật ngữ tương tự trong cuộc sống. [T3] Trao đổi + Trình bày cho người khác hiểu được thông tin vấn đề Vật lý.
+ Biết thảo luận nhóm, trình bày, tranh luận trong nhóm. + Có thể diễn đạt, trao đổi thông tin theo 9 nhiều cách khác nhau Năng lực cá nhân [C1] Kiến thức cá + Tự xác lập được hệ thống kiến thức đã nhân học. + Đưa kiến thức mới vào hệ thống kiến thức đã có [C2] Trình độ của + Tự mô tả được hệ thống kiến thức của bản thân bản thân. + Nhìn nhận được các khiếm khuyết của bản thân về kiến thức, kĩ năng Vật lý.
Các mức độ của năng lực. Dựa vào tốc độ tiến hành và chất lượng sản phẩm hoạt động, người ta phân biệt 3 mức độ phát triển của năng lực: năng lực, tài năng và thiên tài. - Năng lực là khả năng mà con người thực hiện một hoạt động nào đó. - Tài năng là năng lực thể hiện hoạt động một cách sáng tạo.
- Thiên tài là mức độ cao nhất mà con người đạt đến ngưỡng hoàn hảo 1. Cấu trúc của năng lực. [3] Cấu trúc của năng lực được chia thành: cấu trúc năng lực theo nguồn lực hợp thành và cấu trúc năng lực theo các năng lực bộ phận.Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo nguồn lực hợp thành Có thể hiểu rằng năng lực là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, niềm tin, sự sẵn sàng hoạt động… Có thể hiểu đó là hướng tiếp cận cấu trúc của năng lực theo nguồn lực hợp thành Từ quan niệm cấu trúc năng lực theo nguồn lực hợp thành ta có sơ đồ 1. 10 Chuẩn năng lực năng lực phát triển năng lực hiểu năng lực làm năng lực tình cảm Trí tuệ / kiến thức Kỹ năng, kỹ xảo Tình cảm, giá trị Mục tiêu Sơ đồ 1: Cấu trúc năng lực theo nguồn hợp thành 2.
Tiếp cận năng lực theo các năng lực bộ phận [3] Còn với quan niệm cấu trúc năng lực theo các năng lực bộ phận thì: - Hợp phần (components of competency): là các lĩnh vực chuyên môn tạo nên năng lực. - Thành tố (element): là các năng lực hoặc kĩ năng bộ phận tạo nên mỗi hợp phần. - Hành vi (behaviour): bộ phận được chia tách từ mỗi thành tố. Cách phân giải cấu trúc năng lực nói trên là sự bổ sung cho cách phân giải cấu trúc theo nguồn lực hợp thành.
Bởi vì có hình dung được đầy đủ các năng lực bộ phận và hành vi biểu hiện của chúng thì mới có thể thiết kế được chương trình giáo dục, tức là mới xác định được các yếu tố đầu vào (nguồn lực) về kiến thức, kĩ năng, thái độ và phân bổ chúng theo các trình độ phù hợp với yêu cầu phát triển năng lực ở mỗi lớp học, cấp học. Kết hợp hai cách phân giải cấu trúc năng lực, nội 11 dung đánh giá kết quả giáo dục sẽ dựa trên một ma trận bao gồm các chỉ số phát triển năng lực bộ phận và chỉ số về năng lực hiểu, năng lực làm và năng lực ứng xử. Các tiêu chí đánh giá năng lực Đánh giá năng lực của học sinh là đánh giá quá trình học tập, kết quả học tập và khả năng vận dụng kiến thức kĩ năng, thái độ của người học trong thực tiễn. Các tiêu chí đánh giá + Đánh giá khả năng học sinh vận dụng kiến thức kỹ năng vào giải quyết vấn đề trong thực tiễn và trong chương trình giáo dục + Đánh giá gắn với ngữ cảnh hoặc nội dung học tập trong nhà trường, trong đời sống.
+ Thực hiện nhiệm vụ bài tập trong tình huống hàn lâm và tình huống thực + Đánh giá trong mọi quá trình học, chú trọng đến đánh giá trong khi học + Đánh giá thông qua khả năng hoàn thành nhiệm vụ với các mức độ được giao. Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực của học sinh. Biện pháp 1: Định hướng mục tiêu dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh Muốn hình thành phát triển năng lực học sinh thì cần phải xác định được mục tiêu dạy học từ đó mới đề ra những phương pháp dạy học phù hợp với năng lực của từng đối tượng học sinh. Để đạt được các mục đích này cần phải thay đổi mục tiêu kiến thức và mục tiêu cụ thể như sau: + Đối với mục tiêu kiến thức: ngoài yêu cầu mức độ tái hiện nội dung cần đạt được mức độ lớn hơn là vận dụng kiến thức trong các tình huống thực tế.