Tổng quan nghiên cứu

Thực tế giảng dạy văn học tại các trường trung học phổ thông cho thấy có khoảng 85% học sinh gặp khó khăn trong việc tiếp nhận toàn diện các kiệt tác văn học hiện thực 1930 - 1945, trong khi khoảng 66,7% giáo viên vẫn phụ thuộc nhiều vào các tài liệu hướng dẫn sẵn có. Việc giảng dạy truyện ngắn "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11 (Tập 1) hiện nay đang đối mặt với tình trạng tiếp cận phiến diện, nặng về phân tích cơ cấu câu chữ hoặc máy móc gắn ghép hoàn cảnh lịch sử mà xem nhẹ năng lực tiếp nhận sáng tạo của người học. Nhằm khắc phục tình trạng này, nghiên cứu đặt mục tiêu xây dựng một quy trình sư phạm tối ưu dựa trên quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương, kết hợp chặt chẽ giữa hoàn cảnh lịch sử phái sinh, giá trị bản thể văn bản và chiều kích lịch sử chức năng.

Nghiên cứu được triển khai khảo sát thực tế tại trường Trung học phổ thông Nguyễn Du (thành phố Bắc Ninh) trong học kỳ I năm học 2013 - 2014, với sự tham gia của 15 giáo viên tổ Ngữ văn và 90 học sinh lớp 11. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, đề tài trực tiếp cụ thể hóa yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo Điều 28.2 Luật Giáo dục, hướng đến việc tăng trên 25% tỷ lệ học sinh chủ động thảo luận và nâng cao hơn 30% năng lực tự cảm thụ, đánh giá thẩm mỹ của học sinh đối với các tác phẩm tự sự hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của Lý thuyết tiếp nhận văn học (Reception Theory), Thi pháp học hiện đại và hệ thống quan điểm phương pháp luận của Giáo sư Phan Trọng Luận cùng Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng. Mô hình nghiên cứu vận hành theo chu trình khép kín gồm 5 mắt xích của đời sống tác phẩm văn chương: Cuộc sống – Nhà văn – Tác phẩm – Bạn đọc – Cuộc sống. Trong mô hình này, tác phẩm không phải là một cấu trúc tĩnh mà luôn vận động trong sự tương tác đa chiều.

Các khái niệm then chốt được xác lập bao gồm: Tiếp cận lịch sử phái sinh (nghiên cứu tác phẩm trong mối liên hệ với hoàn cảnh lịch sử - xã hội năm 1941, bối cảnh làng Đại Hoàng và phong cách nghệ thuật Nam Cao); Tiếp cận bản thể văn bản (khai thác cấu trúc hình tượng, nghệ thuật trần thuật phức điệu, ngôn ngữ đa thanh và điểm nhìn trần thuật); Tiếp cận lịch sử chức năng (xem xét tác động thẩm mỹ và năng lực đồng sáng tạo của bạn đọc học sinh); và Tính chỉnh thể nghệ thuật (mối liên hệ hữu cơ không thể tách rời giữa nội dung tư tưởng và hình thức thẩm mỹ).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản tác phẩm "Chí Phèo" trong Sách giáo khoa Ngữ văn 11 (Tập 1), Sách giáo viên, hệ thống 15 phiếu điều tra giáo viên, 90 phiếu khảo sát học sinh, cùng kết quả bài kiểm tra 15 phút, bài viết 2 tiết và giáo án thực nghiệm.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 15 giáo viên tổ Ngữ văn và 90 học sinh thuộc 2 lớp 11A2 và 11A3 tại trường Trung học phổ thông Nguyễn Du, thành phố Bắc Ninh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ các mức độ tiếp thu và năng lực học tập khác nhau của học sinh khối 11.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê xã hội học, phân tích tổng hợp văn bản và thực nghiệm sư phạm đối chứng. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm bảo đảm tính định lượng khách quan cho các kết luận về thực trạng giảng dạy, đồng thời kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả giáo dục của quy trình tiếp cận đồng bộ trong giờ dạy thực tế. Timeline nghiên cứu được tiến hành tập trung từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 11 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng mang lại 4 phát hiện nổi bật với các số liệu cụ thể:

  • Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các hướng tiếp cận: Có tới 93,4% giáo viên ưu tiên tiếp cận trong văn bản, 6,6% chú trọng đến yếu tố ngoài văn bản, và 0% giáo viên áp dụng hướng tiếp cận lịch sử chức năng trong giờ dạy.
  • Thói quen truyền thụ một chiều vẫn chiếm ưu thế: Khoảng 66,7% giáo viên thừa nhận sử dụng biện pháp thuyết giảng là chính, học sinh chỉ lắng nghe và tiếp nhận thụ động; chỉ có 20,1% giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở và 6,6% tổ chức hoạt động đối thoại mở cho học sinh.
  • Rào cản về thời lượng và dung lượng tác phẩm: Có 50% trong tổng số 90 học sinh cho rằng khó khăn lớn nhất khi học tác phẩm là do tác phẩm dài nhưng thời lượng phân phối chỉ có 2 đến 3 tiết; 66,7% học sinh chuẩn bị bài một cách máy móc theo câu hỏi Sách giáo khoa và 50% chỉ ghi chép theo các phần kết luận chốt của giáo viên.
  • Hiệu quả chiếm lĩnh tác phẩm của học sinh còn hạn chế: Sau khi học xong, 61,1% học sinh chỉ nắm được kiến thức cơ bản về tác giả và cốt truyện chung, trong khi chỉ có 17,8% nắm bắt sâu sắc hệ thống tính cách nhân vật và 14,4% hiểu đúng tình huống truyện mang tính triết lý.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ việc giáo viên chịu áp lực về thời gian giảng dạy và có tới 66,7% phụ thuộc hoàn toàn vào gợi ý trong Sách giáo viên vốn chỉ tập trung vào phân tích văn bản tĩnh. Điều này vô tình triệt tiêu vai trò chủ thể sáng tạo của học sinh, biến người học thành đối tượng tiếp nhận thụ động.

So với các công trình trước đây chỉ khai thác tác phẩm theo đặc trưng thể loại hay phương thức cấu tạo hàm ngôn, quan điểm tiếp cận đồng bộ tạo ra bước đột phá khi liên kết hoàn cảnh sáng tác năm 1941 tại làng Đại Hoàng với cấu trúc nghệ thuật trần thuật nửa trực tiếp và phản ứng tâm lý của học sinh hiện đại.

Dữ liệu khảo sát thực trạng có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ áp dụng giữa 3 hướng tiếp cận (93,4% văn bản so với 0% lịch sử chức năng) và bảng đối sánh kết quả kiểm tra trước - sau thực nghiệm (cho thấy tỷ lệ bài viết đạt điểm khá giỏi tăng từ khoảng 18% lên trên 45%). Kết quả này khẳng định rằng khi người học được đặt vào vị trí đối thoại với văn bản và bối cảnh thời đại, giá trị nhân đạo mới mẻ về khát vọng lương thiện của Nam Cao mới thực sự được thẩm thấu sâu sắc.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Xây dựng hệ thống câu hỏi đa tầng tích hợp 3 hướng tiếp cận: Tổ chuyên môn Ngữ văn trường trung học phổ thông chỉ đạo giáo viên hoàn thiện ngân hàng câu hỏi phân hóa từ đầu học kỳ, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh tham gia thảo luận chủ động trong mỗi tiết học 45 phút lên trên 40%.
  • Đổi mới phương thức hướng dẫn học sinh đọc sáng tạo: Giáo viên bộ môn áp dụng kỹ thuật đọc diễn cảm, hướng dẫn phân tích lời trần thuật nửa trực tiếp và các đoạn độc thoại nội tâm của Chí Phèo, phấn đấu giúp 80% học sinh nhận diện đúng cấu trúc tâm lý nhân vật sau 2 tuần học tập.
  • Tích hợp tri thức văn học sử và liên hệ so sánh thực tiễn: Giáo viên định hướng học sinh đối chiếu bối cảnh xã hội nông thôn Việt Nam năm 1941 với tình cảnh bần cùng hóa của nhân vật, bảo đảm trên 75% bài viết thu hoạch của học sinh thể hiện được tư duy phản biện và góc nhìn cá nhân sâu sắc.
  • Tổ chức tập huấn chuyên đề về phương pháp tiếp cận đồng bộ: Ban Giám hiệu nhà trường và các cấp quản lý giáo dục duy trì định kỳ 1 lần mỗi học kỳ các buổi sinh hoạt chuyên môn, hướng tới mục tiêu 100% giáo viên chuyển đổi thành công từ phương pháp đọc chép sang tổ chức hoạt động tiếp nhận thẩm mỹ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Giáo viên Ngữ văn cấp Trung học phổ thông: Cung cấp khung giáo án thực nghiệm mẫu và phương pháp triển khai trọn vẹn 3 tiết học về tác gia Nam Cao cùng tác phẩm "Chí Phèo" theo hướng phát huy phẩm chất và năng lực người học.
  • Học viên cao học và sinh viên Sư phạm Ngữ văn: Nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc đề tài phương pháp giảng dạy, kỹ thuật điều tra xã hội học trên mẫu 90 học sinh và quy trình xử lý dữ liệu thực nghiệm sư phạm.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn và chuyên viên giáo dục: Căn cứ thực tiễn tin cậy để xây dựng chương trình bồi dưỡng giáo viên, định hướng đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn theo hướng mở.
  • Học sinh trung học phổ thông chuyên ban và ôn thi học sinh giỏi: Tài liệu chuyên sâu giúp nắm vững thi pháp truyện ngắn Nam Cao, kỹ năng phân tích nhân vật lưỡng hóa và nghệ thuật ngôn ngữ đa thanh để tự tin đạt điểm 8,0 trở lên trong các kỳ thi.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất cốt lõi của quan điểm tiếp cận đồng bộ trong dạy học văn học là gì? Đó là sự phối hợp hài hòa, không tách rời giữa 3 hướng: lịch sử phái sinh (bối cảnh xã hội năm 1941), bản thể văn bản (ngôn ngữ, kết cấu, nhân vật) và lịch sử chức năng (sự đồng cảm của học sinh). Khảo sát cho thấy việc thiếu tiếp cận chức năng khiến 50% học sinh thấy tác phẩm xa lạ, do đó tiếp cận đồng bộ là giải pháp tối ưu.

Vì sao giáo viên thường gặp khó khăn khi dạy truyện ngắn "Chí Phèo" trong 3 tiết? Tác phẩm có dung lượng dài, đa tầng nghĩa triết lý và mang đậm chất tiểu thuyết phức tạp. Khảo sát 15 giáo viên cho thấy 66,7% phụ thuộc vào sách giáo viên và dễ sa vào thuyết giảng một chiều, dẫn đến việc thiếu thời gian để tổ chức các hoạt động đối thoại và khơi gợi cảm xúc sáng tạo cho học sinh.

Tiếp cận lịch sử phái sinh trong tác phẩm này cần tập trung vào những yếu tố nào? Trọng tâm là bối cảnh ngột ngạt của xã hội thuộc địa năm 1941, nguyên mẫu đời thực tại làng Đại Hoàng, sự thay đổi nhan đề từ "Cái lò gạch cũ", "Đôi lứa xứng đôi" sang "Chí Phèo", và phong cách nghệ thuật Nam Cao. Khoảng 61,1% học sinh hiểu sâu tác phẩm hơn khi được kết nối hoàn cảnh sáng tác với số phận nhân vật.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật Chí Phèo có điểm gì mới lạ cần lưu ý khi dạy học? Nam Cao khắc họa nhân vật theo nguyên tắc lưỡng hóa phức tạp: Chí Phèo vừa là quỷ dữ vừa khao khát lương thiện, Thị Nở xấu xí nhưng giàu tình người mộc mạc. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tiếp cận nhân vật qua độc thoại nội tâm và sự biến chuyển tâm lý từ khi đón nhận bát cháo hành thay vì định kiến một chiều.

Hiệu quả thực nghiệm sư phạm của đề tài được chứng minh như thế nào? Nghiên cứu đã thực nghiệm trực tiếp tại 2 lớp 11A2 và 11A3 trường THPT Nguyễn Du (Bắc Ninh). Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh chủ động thảo luận và phát biểu tăng từ 13,3% lên trên 40%, tỷ lệ hiểu đúng tình huống truyện tăng gấp đôi, chứng minh tính khả thi vượt trội của phương pháp.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quan điểm tiếp cận đồng bộ trong dạy học tác phẩm văn chương tự sự ở trường trung học phổ thông.
  • Chỉ rõ thực trạng 93,4% giáo viên nghiêng về tiếp cận văn bản thuần túy và hoàn toàn bỏ trống hướng tiếp cận lịch sử chức năng trong thực tế.
  • Thiết lập quy trình 4 biện pháp dạy học đổi mới kiệt tác "Chí Phèo", kết hợp nhuần nhuyễn giữa bối cảnh hiện thực năm 1941 và thi pháp trần thuật hiện đại.
  • Chứng minh tính khả thi vượt bậc qua thực nghiệm sư phạm trên 90 học sinh khối 11 tại trường THPT Nguyễn Du (Bắc Ninh).
  • Đóng góp nguồn tư liệu sư phạm giá trị, thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực tiếp nhận thẩm mỹ.

Kế hoạch mở rộng nghiên cứu sẽ tập trung ứng dụng mô hình tiếp cận đồng bộ cho toàn bộ các tác phẩm văn xuôi hiện thực giai đoạn 1930 - 1945 trong giai đoạn 2024 - 2026. Quý thầy cô, các nhà nghiên cứu và học sinh hãy áp dụng ngay quy trình sư phạm này vào thực tiễn giảng dạy và học tập để khơi dậy trọn vẹn giá trị nhân văn của các kiệt tác văn học dân tộc!