Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Thiết kế, sử dụng graph và SĐTD trong dạy học học chương nhóm nitơ hóa học 11 nâng cao THPT. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Lịch sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Lý thuyết graph là một lĩnh vực nghiên cứu đã có từ lâu và có nhiều ứng dụng hiện đại. Những tư tưởng cơ bản của lý thuyết graph được đề xuất vào những năm đầu của thế kỷ XVIII bởi nhà toán học lỗi lạc người Thụy Sỹ Leonhard Euler. Chính ông là người đã sử dụng graph để giải bài toán nổi tiếng “Bảy cây cầu ở Konigsburg” (công bố vào năm 1736).
Trong những năm cuối thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của toán học và nhất là toán học ứng dụng, những nghiên cứu về vận dụng lý thuyết graph đã có những bước tiến nhảy vọt. Sau khi lý thuyết graph hiện đại được công bố, nhiều nhà toán học trên thế giới đã nghiên cứu làm cho môn học này ngày càng phong phú. Tony Buzan là một trong số ít những người dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm ra quy luật hoạt động của bộ não và làm việc theo quy luật đó để đạt được những sự thành công đáng kinh ngạc. Ông là tác giả đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu về não và phương pháp học tập với hơn 80 tác phẩm đã xuất bản và 3 triệu bản đã được bán ra.
Nhiều cuốn sách và những sản phẩm giành được những thành công lớn ở hơn 100 nước với 30 ngôn ngữ, doanh thu lên đến hơn 100 triệu bảng Anh. Tony Buzan đã xây dựng tên tuổi của mình từ một ý tưởng về cơ bản rất đơn giản mà ông gọi là Bản đồ Tư duy (Mind Maps) - công cụ hỗ trợ tư duy được mô tả là “Công cụ của bộ não” với hơn 250 triệu người sử dụng trên thế giới. Như vậy Mind Maps được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20) bởi Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh "ghi lại bài giảng" mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh. Các ghi chép này sẽ nhanh hơn và dễ nhớ và dễ ôn tập hơn.
Giữa thập niên 70 Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã truyền bá kĩ xảo về Mind Map cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện giáo dục. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, đã có nhiều phần mềm vẽ SĐTD được ra đời hỗ trợ cho việc sử dụng nó trong nhiều lĩnh vực khác nhau một cách nhanh chóng và mỹ thuật. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ở Việt Nam Từ năm 1971, cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang là người đầu tiên nghiên cứu chuyển hoá graph toán học thành graph dạy học và đã công bố nhiều công trình trong lĩnh vực này.
Trong các công trình đó, giáo sư đã nghiên cứu những ứng dụng cơ bản của lý thuyết graph trong khoa học giáo dục, đặc biệt trong giảng dạy hoá học. Sau đó cũng đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu trong lĩnh vực này. Năm 1980, tác giả Trần Trọng Dương đã nghiên cứu đề tài: “Áp dụng phương pháp graph và algorit hoá để nghiên cứu cấu trúc và phương pháp giải, xây dựng hệ thống bài toán về lập công thức hoá học ở trường phổ thông”. Năm 1984, tác giả Phạm Tư đã hoàn thành luận án tiến sĩ về đề tài nghiên cứu “Dùng graph nội dung của bài lên lớp để dạy và học chương Nitơ - Photpho ở lớp 11 trường phổ thông trung học”.
Với thành công của ông, lý thuyết graph đã được vận dụng như một phương pháp dạy học hoá học thực sự có hiệu quả. Trong một vài năm trở lại đây, SĐTD được biết đến và sử dụng khá nhiều ở các trường phổ thông ở Việt Nam, đặc biệt ở bậc THCS. Các luận văn, khóa luận tốt nghiệp về việc sử dụng phương pháp graph và SĐTD trong dạy học hóa học đã được nghiên cứu như: - Ngô Quỳnh Nga (2009), Sử dụng phương pháp grap và lược đồ tư duy tổ chức hoạt động học tập của HS trong giờ ôn tập – luyện tập phần kim loại hóa học 12 – THPT nâng cao – nhằm nâng cao năng lực nhận thức, tư duy logic cho HS. Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội.
- Trần Thị Lan Phương (2009), Sử dụng phương pháp grap và lược đồ tư duy nhằm nâng cao năng lực nhận thức , tư duy logic cho HS trong giờ luyện tập phần phi kim 10 THPT. Luận văn Thạc sĩ , ĐH Vinh. - Lê Thị Thu Thủy (2010). Xây dựng và sử dụng grap, SĐTD các bài luyện tập phần dẫn xuất hiđocacbon lớp 11 nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS.
Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội. - Đoàn Thị Hòa (2011), Xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học phần hiđrocacbon nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học THPT. Luận văn Thạc sĩ ĐHSP Hà Nội. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đinh Thị Mến (2011).
Sử dụng grap và SĐTD trong giờ ôn tập, luyện tập phần hóa phi kim lớp 11 THPT. Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. Các luận văn này hướng chú ý nhiều hơn vào việc sử dụng SĐTD để nâng cao chất lượng dạy và học các bài ôn tập, luyện tập, chưa chú ý đến các dạng bài dạy khác. Dạy và học tích cực [6] 1.
Khái niệm dạy học tích cực Dạy học tích cực là PPDH phải phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh. Nói cách khác, trong mọi hoạt động dạy học cần tuân thủ “Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm”. Trong dạy và học tích cực, thông qua vai trò thiết kế, tổ chức, định hướng của giáo viên, người học phải được tham gia vào quá trình hoạt động học tập từ khâu phát hiện vấn đề, tìm giải pháp cho vấn đề đặt ra và thực hiện các giải pháp đó. Chính qua đó, người học lĩnh hội được nội dung học tập đồng thời phát triển năng lực sáng tạo.
Dạy học tích cực phải hướng vào người học, nhưng giáo viên vẫn đóng vai trò chủ đạo, hoạt động của giáo viên đa dạng hơn, phức tạp hơn, đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng, có kĩ năng sư phạm, phải có tình cảm nghề nghiệp thì việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tính tích cực mới đạt hiệu quả. Trong dạy học tích cực, các hoạt động của giáo viên và học sinh khác về cơ bản so với dạy học thụ động, vai trò của người dạy và học thể hiện qua sơ đồ: Người dạy (tác nhân) Người học (chủ thể) Định hướng/Hướng dẫn Nghiên cứu, tìm tòi Tổ chức Thực hiện Trọng tài, cố vấn, kết luận, Tự kiểm tra, tự điều chỉnh kiểm tra Hình 1.1: Vai trò của hoạt động dạy và học trong dạy học tích cực 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, trong dạy và học tích cực, người học là chủ thể của hoạt động học, tự tìm kiếm, xây dựng kiến thức bằng hoạt động của chính mình. Giáo viên không đưa ra cho họ các kiến thức có sẵn mà thay vào đó là những tình huống, những nhiệm vụ thực tiễn cụ thể, sinh động để kích thích nhu cầu, động cơ muốn khám phá, giải quyết, từ đó phát huy tiềm năng sáng tạo của người học. Giáo viên trong dạy và học tích cực cần là người định hướng, tổ chức để người học tự tìm ra chân lí.
Giáo viên đồng thời cũng là người tổ chức các mối quan hệ trao đổi người dạy - người học, người học - người học, và là trọng tài khoa học, đưa ra các kết luận và kiểm tra, đánh giá trên cơ sở người học tự kiểm tra - đánh giá. Học tập tích cực 1. Khái niệm và biểu hiện của học tập tích cực Thuật ngữ “ tích cực học tập” chính là những hoạt động nhận thức, hoạt động trí tuệ diễn ra bên trong người học. Đó là những hoạt động chủ động của chủ thể (thực chất là tích cực nhận thức) đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Tính tích cực học tập nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao hiệu quả học tập. Tính tích cực học tập liên quan đến một số yếu tố sau: Tư duy độc lập, sáng tạo TÍCH CỰC HỌC TẬP Động cơ học tập Hứng thú học tập Tự giác học tập Hình 1.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập Một số đặc điểm cơ bản thể hiện tính tích cực học tập của học sinh: - Có hứng thú học tập. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tập trung chú ý tới bài học/ nhiệm vụ học tập - Mức độ tự giác vào tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi thảo luận, ghi chép. - Có sáng tạo trong quá trình học tập.
- Thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập được giao. - Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình. - Biết vận dụng những tri thức thu được vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Các biểu hiện của học tích cực: - Tìm tòi, khám phá, tiến hành thí nghiệm… - So sánh, phân tích, kiểm tra.
- Thực hành, xây dựng… - Giải thích, trình bày, thể hiện, hướng dẫn… - Giúp đỡ, làm việc chung, liên lạc… - Thử nghiệm, giải quyết vấn đề, phá bỏ làm lại… - Tính toán… 1. Động cơ học tập [14] a) Động cơ được định nghĩa như là một trạng thái bên trong có tác dụng thúc đẩy, khuyến khích, hướng dẫn và duy trì hành vi. Động cơ học tập của học sinh là xu hướng của học sinh tìm kiếm những hoạt động học thuật có ý nghĩa và có giá trị và cố gắng nhận được những lợi ích học thuật có định hướng từ những hoạt động đó. Động cơ học tập có thể được hiểu như là một dấu hiệu chung và một tình huống một trạng thái cụ thể (Jere Brophy – 1988).