Chương I KHÁI QUÁT VE CHƯƠNG TRÌNH VŨ KHÍ HẠT NHÂN CUA CONG HOA DAN CHỦ NHÂN DÂN TRIEU TIÊN TỪ NĂM 1956 DEN NAM 2003 1. Bối cảnh quốc tế và khu vực từ giữa thé ki XX đến đầu thế ki XXI 1.1 Khái quát về bán dao Triều Tiên Bán đảo Triều Tiên là một khu vực nằm ở Đông Bắc Á có đường biên giới đất liên với Trung Quốc, phía Đông Tây giáp với Nga và bao quanh bởi ba mặt biển: biển Hoa Đông ở phía Nam, biên Nhật Ban ở phía Đông và biên Hoang Hải nam ở phía Tay, dọc theo bờ biển ở phía Tây và phía Nam có hơn 4. Bán đảo kéo dai về phía Nam tính từ phần chính của lục địa châu Á khoảng 683 dam (I 100km) với diện tích 222. 70% điện tích bán đảo Triều Tiên là núi với những bình nguyên bị chia cắt bởi các day núi đồ sộ va các bờ biên đặc biệt khúc khuyu.
CHDCND Triều Tiên nằm ở phía Bắc của vĩ tuyến 38, với diện tích 77.539,2 km’, với tổng số dan chỉ bằng 1/3 bán đảo Triều Tiên. Pyongyang (Bình Nhưỡng) được chon làm thủ đô. Bắc Triều Tiên với địa hình hầu hết là núi, đặc biệt là vùng phía Đông (Andrew C. Bán đảo Triều Tiên tuy chỉ là một bán đảo tương đối nhỏ nhưng dựa theo khái niệm địa — chiến lược thi bán dao Triều Tiên là khu vực vành đai điển hình, là một vị trí chiến lược quan trọng đổi với nhiều quốc gia.
Bán đảo nảy được xem là một khu vực có đặc trưng địa - chiến lược độc đáo khi đó chính là con đường nối liền lục địa châu Á với các đảo Nhật Bản và là trung tâm địa lý của khu vực Đông Bắc Á. Với Mỹ, bán đảo Triều Tiên là “cdi neo” để Mỹ trụ chân ở khu vực Đông Bắc A - nơi có những lực lượng tiêm ân nguy cơ, thách thức ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực và trên thé giới không chi trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh mà cả sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc (Tran Thị Tam, 2014, tr. Bán đảo Triều Tiên nằm trong khu vực Đông Bắc Á và ở đầu cực Đông của lục địa A - Âu. Khu vực Đông Bắc A nói chung và Bán đảo Triều Tiên nói riêng không phải là trung tâm tải nguyên của thé giới, địa - kinh tế cũng không nồi bật.
Nhưng Đông Bắc A lại ở vào trung tâm của những nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Nga. Tại đây, đang điễn ra cuộc đọ sức của các nước lớn trên nhằm tranh giành ánh hưởng và vai trò của minh trong khu vực. Trên ban đô thế giới, ban đảo Triều Tiên có vị tri địa - chiến lược quan trọng. Không phải ngẫu nhiên mà trong nhiêu thập kỷ qua van dé hạt nhân Triều Tiên được sự quan tâm đặc biệt của các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc và 10 Nhật Bản.
Bởi đây là vùng đất nằm án ngữ ngã ba chiến lược cả trên biến lẫn lục địa, nói Thái Bình Dương với luc địa châu A va châu Âu nên nó trở thành khu đệm, điểm nóng của sự tranh chấp quyền lực chính trị quốc tế kéo dai từ lịch sử cho đến thời điểm hiện tại (Lê Văn Mỹ, 2012). Sau cuộc chiến tranh trên Bán đảo Triều Tiên từ năm 1950 đến năm 1953, vĩ tuyến 38° là giới tuyến phân chia Bán đảo thành hai miền với hai quốc gia riêng biệt. Ở miền Bac, Triều Tiên tiền lên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Trong một thời gian dai của công cuộc xây dựng đất nước, Triều Tiên tuy có đạt được một số thành tựu đáng kế nhưng trước những thay đôi của tình hình trong nước và thế giới.
Triều Tiên lại không có được những cải cách kịp thời nhằm đưa đất nước tiền lên theo kịp thời đại mà vẫn duy trì nền kinh tế kế hoạch hoá, kiên trì đơn lẻ ý thức hệ cũ và có hy vọng thống trị toàn Bán đảo. Kết quả là một Triều Tiên yếu kém về nhiều mặt, thiếu thốn tram trọng về lương thực va năng lượng, duy chỉ có sức mạnh về quân sự là đáng kể. Chính vì nằm ở khu vực quan trọng, nên Bán đảo Triều Tiên luôn thu hút sự quan tâm của nhiêu cường quốc lớn trên thé giới. Không chỉ quan tâm ma các cường quốc còn tim mọi cách dé chiếm giữ hoặc nâng cao vai trò ảnh hưởng của mình ở khu vực nay.
Không chỉ hiện tại ma trong lịch sử, việc Triều Tiên luôn bị xâm lược và can thiệp đã chứng minh cho tảm quan trọng về vị trí địa - chính trị của mình. Triều Tiên dù chỉ là một bán đảo tương đôi nhỏ nhưng có một vị trí chiến lược quan trọng đổi với nhiều quốc gia, đặc biệt là với Mỹ. Về phía Mỹ, tir khi chiếm đóng Nam Triều Tiên, Mỹ đã có những mưu tính riêng với khu vực nảy, đặc biệt là việc không mong muốn bán đảo Triều Tiên thông nhất do lo sợ về sự ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản và cũng đã sớm xác định được vi trí quan trọng của Nam Triều Tiên trong chiến lược toàn cầu của Mỹ ở khu vực châu Á. Bán đảo Triéu Tiên có vị tri nằm sát Trung Quốc, va đối với Mỹ, Trung Quốc chính là nguồn gốc chu yếu của mỗi đe doa cộng sản ở châu A.
Với mọi tác động của Trung Quốc cùng với sự gắn kết giữa Kim Nhat Thanh va Stalin thì chủ nghĩa cộng sản sẽ như chủ thuyết “con bài domino”, lan truyền sang các khu vực của Nam A va Trung Cận Đông. Chủ nghĩa cộng sản khi được nuôi đưỡng và phát triển sẽ đe đọa đến sự ôn định của thể giới và vị thế của Mỹ trên trường quốc tế. Vì vậy, Mỹ luôn mong muốn can thiệp vào khu vực bán dao Triều Tiên và ngăn chặn sự thong nhất của bán đảo. Vị thế của bán đảo Triều Tiên trong chiến lược mới của Mỹ không những không bị giảm xuống mà ngược lại còn tăng lên, bán đảo sẽ trở thành căn cứ điểm chiến lược quan trọng của Mỹ ở Châu A - Thái Bình Dương.
Mỹ vẫn sẽ lợi dụng “lá bài” quan trọng đó. Trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, khu vực Đông Bắc Á là một trong những khu vực quan trọng nhất. Chiến lược toàn cầu của Mỹ chính là: giữ chắc NATO ở Châu ll Au, thúc day toàn điện NATO mo rộng ra phía Đông, kéo Nhật Ban lại gần Mỹ hơn, tăng cường toàn điện đồng minh quân sự Mỹ - Nhật. Hơn nữa, vị thể của bán đảo Triều Tiên có ảnh hưởng lớn ở khu vực Đông Bắc Á nên không chế được bán đảo có ý nghĩa v6 cling quan trọng đối với việc thực hiện chiến lược toản cau của Mỹ.
Mỹ coi “việc Triều Tiên vẫn bị đe doa” làm cái cớ dé vào giúp đỡ tạo điều kiện thúc đây chiến lược của minh, gia tăng phát triển hệ thông phòng ngự tên lửa đạn đạo. Nếu hệ thông này hình thành, Mỹ sẽ tùy ý tấn công các nước khác, và có ưu thé quân sự tuyệt đối chong được sự công kích từ các nước khác. Công ty RAND (Mỹ) ngảy 15 tháng 5 năm 2001 đã đưa ra một bản bao cáo nghiên cứu “My và Châu A”, trong đó nêu, ngoài việc kiến nghị Mỹ cần tăng cường hợp tác quân sự với Australia, New Zealand, Philippines thì còn nhắn mạnh Mỹ nên bảo vệ vùng phía Bắc Châu Á vả lợi dụng một cách có hiệu quả hơn nữa quan hệ an ninh mật thiết với Nhật Bán và Hàn Quốc. Theo như sự điều chỉnh chính sách của Mỹ với Châu Á không ngừng sâu sắc thêm, việc thực hiện và mớ rộng liên minh chủ đạo của Mỹ đã trở thành nhiệm vụ cấp bách hiện nay trong chính sách Châu A của Mỹ.
Trong tình hình này, vị thé của Hàn Quốc là một nước đồng minh truyền thống của Mỹ ngày càng nôi bật (Tran Thị Tam, 2009, tr.2 Bối cảnh quốc tế Thập ky 1950. Chiến tranh Lạnh đang ở đỉnh cao, quan hệ giữa hai khối Đông — Tây hết sức căng thăng. Tại khu vực Đông Á, các vấn đẻ về Triều Tiên và Dài Loan dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc. Trong thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh, đời sống chính tri, kinh tế xã hội của thế giới có nhiều biến đổi phức tạp.
Nguy cơ chiến tranh quy mô lớn bị đây lùi, xu thé hòa bình và hợp tác dé phát triển được củng cô hơn. Một trật tự thé giới mới đang trong quá trình hình thành với sự tập hợp lực lượng mới. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật bắt đầu từ thập kỷ 1940 có bước phát triên mạnh mẽ với quy mô và tốc độ chưa từng có trong lịch sử. Van dé kinh tế ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế và tác động tới cục diện của thé giới.
Tuy nhiên, tình hình thé giới sau Chiến tranh Lạnh cũng không kém phần phức tạp, căng thăng, có nhiều thời cơ lớn đan xen với nhiều thách thức lớn. Các nước vừa phải phan đấu duy trì hòa bình, ôn định trên thé giới và khu vực vừa phái tập trung sức lực vào nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế; đồng thời vừa phải dé cao cảnh giác, chủ động đối phó với các tình huống bat trắc, phức tạp có thẻ xảy ra. Bồi cảnh quốc tế mới có những đặc điểm lớn như: Xu hướng toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ (Phó Thị Huyền Trang, 2012, tr. Mặc dù vấn đề toàn cầu hóa thứ ba bat đầu dién ra từ những năm 1980 song anh hưởng và tác động của nó rất lớn không chỉ trên thế giới mà còn thể hiện rất rõ trong từng khu vực va ở từng nước tir sau Chiến tranh Lạnh đến nay.
12 < Mặt tích cực của toàn cầu hóa là không thé phủ nhận. Có thé coi van đề toàn cầu hóa như một cuộc cách mạng, các doanh nghiệp tham gia vào toản cầu hóa có thẻ sử dung vốn, kỹ thuật, thông tin, quản lý và cả sức lao động ở mọi nơi trên thẻ giới, tô chức sản xuất ở nơi mả họ muốn và đưa đi tiêu thụ ở đâu có nhu cau. Quá trình toan cầu hóa cũng đang tạo ra các cơ hội cho các nước đang phát triển được tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, từ đó hình thành một cơ cấu kính tế - xã hội mới thích ứng và góp phần rút ngắn quá trình hiện đại của các nước này. Hiện nay, con người đang phải đối mặt với rất nhiều van đề mang tính toàn cầu, điền hình là van đề môi trường, dan số hay dịch bénh.