CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE SU DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG DAN GIAN TẠI DONG BẰNG BAC BO 1. Sự dung hợp Phật giáo và tín ngưỡng dân gian tại Dong bằng Bắc Bộ qua các giai đoạn lịch sử Đồng bằng Bắc bộ là cái nôi văn minh lúa nước của dân tộc Việt Nam, vì vậy nơi đây còn lưu giữ được tính chất thuần tuý của văn hoá Việt Nam. Đồng băng Bắc bộ cũng chính là nơi Phật giáo lần đầu tiên du nhập vào Việt Nam. Người dân nơi đây xem Phật giáo vừa thiêng liêng vừa gần gũi với họ, nên trong suốt chiều đài lịch sử của dân tộc, chùa chiền được xây dựng khắp moi nơi, hầu như không một làng quê nào lại không có chùa thờ Phật.
Chính vì vậy, Phật giáo ở Đồng bằng Bắc Bộ cũng có những nét riêng của mình, và một trong số đó là sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian nơi đây. Phật giáo truyền vào nước ta rất sớm, từ những năm đầu Công nguyên. Tại Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay) đã có một trung tâm Phật giáo và Phật học khá phon thịnh. Từ đó đến thé kỷ 10 chính là giai đoạn truyền đạo của Phật giáo.
Ban đầu là sự anh hưởng của các nhà sư Ấn Độ, nhưng sau đó, sự ảnh hưởng của các nhà truyền giáo Trung Quốc lại tăng lên, các phái Thiền Trung Quốc dần du nhập vào Việt Nam. Bắt đầu từ thế kỷ 10, Việt Nam bước vao kỷ nguyên độc lập tự chủ sau 1000 năm Bắc thuộc đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển. Trong thời kỳ này, các vị vua nhà Đinh, Tiền Lê đã có chính sách nâng đỡ Phật giáo. Những bước đệm này đã giúp cho Phật giáo phát triển đỉnh cao ở thời Lý và thời Trần với tinh thần tùy tục, tùy duyên, hòa quang đồng tran, cư trần lạc đạo, nhập thé hành đạo nên đã san sinh ra những thiền sư luôn luôn hướng về cuộc sống, hoà nhập với cuộc đời.
Lúc này từ vua tôi đến quần chúng nhân dân đều tôn sùng đạo Phật, tư tưởng Phật giáo được lay làm hệ tư tưởng xã hội. Phat giáo đã kết hợp với tín ngưỡng dân gian, với yếu tố thần thuật của Đạo giáo 11 pháp thuật nên mới có câu chuyện những thiền sư tiên đoán việc xã tắc như Vạn Hạnh, dùng pháp thuật dé chữa bệnh trừ ta, để giáng long phục hỗ, hay bay trên không, đi dưới nước như Nguyễn Minh Không; dé trả thù cho cha, hay đề đầu thai như Từ Đạo Hạnh v. Tại Đồng bằng Bắc Bộ, nhiều chùa tháp được xây dựng trong thời kỳ này, tiêu biểu như: Chùa Một Cột, Chùa Thay, Chùa Dam, Chùa Lý Triều Quốc Su,. Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian trong thời kỳ này cũng được biêu hiện rât rõ qua những ngôi chùa này.
Chùa Một Cột: tọa lạc tại số 1 phố chùa Một Cột, phường Đội Cấn, Quận Ba Đình, Hà Nội. Trước kia đây là thôn Phụ Bảo, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận, đến giữa thế kỷ 19, thôn Phụ Bảo đổi tên là Thanh Bảo. Chùa được xây dựng năm 1049 sau giấc mơ của Lý Thái Tông thấy Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi trên tòa sen, sau đó dắt vua lên tòa. Nhưng theo tam bia dựng năm Cảnh trị đời thứ 3 (1665), đời vua Lê Huyền Tông do Lê Tan Đạt ghi thì: “năm đầu niên hiệu Hàm Thông đời Đường (860) dựng một cột đá ở giữa hồ.
Trên cột xây một tòa lầu ngọc trong đó đặt tượng Phật Quan Am để thờ cúng. Khi triều Lý xây dựng kinh đô ở đây, do vua Lý chưa có con, đến đây cầu nguyện thấy linh ứng, vua sửa thêm ngôi chùa Diên Hựu ở bên phải chùa Một Cột dé mở rộng việc thờ cúng làm sáng rõ sự tôn sùng. Ngay trong sự tích về ngôi chùa này đã cho thấy sự ước vọng của người dân Đông bằng Bắc Bộ luôn cầu mong một cuộc sống không ngừng sinh sôi nảy nở, một cuộc sông được che chở bởi Phật Bà Quan Âm. Chùa Một Cột và Phật Bà Quan Âm giống như hình ảnh biểu trưng cho nguyên lý Mẹ, cho tín ngưỡng phôn thực, cho ước moi sinh sôi này nở, luôn luôn no đủ, và cả cho tinh thần cứu khô cứu nạn của Phật giáo.
Day là một ngôi chùa điển hình thé hiện sự hỗn 12 dung giữa giáo lý Phật giáo và triết lý của tín ngưỡng dân gian của người Việt Ở Đồng bằng Bắc Bộ được xây dựng trong thời kỳ này. “Mười lam trang nau Mười sau trang treo Mười bay phay giường Mười tám đóng cửa chùa Dam.” Những câu thơ lưu truyền kia đã nói lên sự bé thế của chùa Dam, có nghĩa là sau ngày Ram người ta sẽ đóng cửa chùa, bắt đầu từ xâm tối đến lúc trăng lên cao mới đóng được hết tất cả các cửa chùa. Theo thuyết phong thủy, chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông, chùa đặt ở sườn núi phía Nam của day Lam Sơn, chính giữa ngọn cao nhất, núi Rùa làm tiền án, ngòi Con Tên làm minh đường, bên tả có Thanh Long, bên hữu có Bạch Hồ chau về. Mối quan hệ hỗn dung giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian tại chùa Dạm không chi thé hiện qua giáo lý của Phật giáo, mà còn thể hiện ước vọng sinh sôi nay nở, mưa thuận gió hòa của cư dân lúa nước Đông băng Bắc Bộ.
Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian cũng được thê hiện rõ ngay trong nguồn gốc ra đời và thần tích của chùa Lý Triều Quốc Sư, bộc lộ ra truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “tôn sư trọng đạo” của người Việt ta. Chùa Lý Triều Quốc Sư tọa lạc tại số 50, phố Ly Triéu Quéc Su, quan Hoàn Kiếm, Hà Nội (xưa thuộc thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương với tên gọi đền Lý Quốc Sư hay đền Tiên Thị). Nơi đây thờ thiền sư Nguyễn Minh Không người đã chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông. Ông được phong làm Quốc sư và được triều đình phong ấp ở làng Tiên Thị (nay là Điềm Xá), huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Khi ông mắt, dân lang lập đền thờ gọi là "Lý Quốc Sư Tự". Năm 1932, thiền sư Nguyễn Văn Định trụ trì đã bài trí thêm tượng Phật nên đền được gọi là chùa Lý Triều Quốc Sư. 13 Năm 11 tuổi, ngài xuất gia tu Phật cầu đạo với Thiền sư Từ Đạo Hạnh, được khen tải giỏi, thông minh và được ấn chứng sau sẽ trở thành “Pháp khí” trong Thiền môn, ban pháp danh Minh Không, đời thứ 13 dong Tỳ Ni Da Lưu Chi. Qua thời gian dài theo thầy học đạo, chứng ngộ chân không Bát nhã, ngài về trụ trì chùa Giao Thủy (Nam Định).
Minh Không là bậc đại sư thông tuệ Phật pháp được giới tăng ni ngưỡng vọng, cũng như được Quốc vương kính trọng. Tương truyền lúc còn đang học đạo, Từ Đạo Hạnh hóa hé dé dọa ngài, ngài bèn nói: “Nếu thầy muốn vậy, sau này chắc sẽ phải chịu quả báo như thế”. Từ Đạo Hạnh hối hận: “Xưa kia Đức Thế Tôn đạo quả viên thành còn chịu báo kim sương, mã mạch, huống chi ta sinh thoi mat pháp đâu có thể tránh được, đời sau sẽ làm Quốc chủ và sẽ chịu báo này, ông với ta có nhân duyên thầy trò, lúc đó sẽ cứu ta”(14, Tr. Sau khi Từ Đạo Hạnh hóa, đầu thai làm vua Lý Thần Tông, lên ngôi chưa được bao lâu, tháng 3 năm 1136, vua bị bệnh nặng, lông lá đầy mình, gầm thét như hồ suốt ngày, các danh y tài giỏi được triệu đến đều không chữa khỏi.
Chính Đại sư Minh Không là người chữa khỏi được cho vua. Sau khi khỏi bệnh, cảm phục tài năng, vua Lý Thần Tông phong ngài làm Quốc Sư. Trong Quốc sử còn chép: “Tục truyền khi sư Từ Đạo Hạnh sắp trút xác, trong khi ốm đem thuốc niệm thần chú rồi giao lại cho học trò là Nguyễn Chí Thành, tức Minh Không, dặn rằng 20 năm sau nếu thay Quốc vương bị bệnh lạ thì đến chữa ngay, có lẽ là việc này”(14, Tr. Ngày | tháng 8, niên hiệu Dai Dinh thứ 2, Tan Dậu (1141), sau khi phó chúc môn đồ, Quốc sư an nhiên ngồi hóa tại chùa Giao Thủy, thọ 76 tuôi.
Dé ghi nhớ công ơn, vua Ly Anh Tông và nhân dân đã lập đền thờ ngài tại đền Tiên Thị (nguyên là Tịnh xá vua Lý Thần Tông ban cho ngài). Thêm nữa, đó là hệ thống chùa thờ Tứ pháp tại vùng Dâu bao gồm: chùa Dâu thờ Pháp Vân, chùa Đậu thờ Pháp Vũ, chùa Tướng thờ Pháp Lôi, chùa Dan thờ Pháp Điện và chùa Tổ thờ Man Nương — mẹ của Tứ Pháp. Với sự tiếp nhận Phật giáo, những vi thần nông nghiệp như bà Dâu, bà Đậu, bả 14 Tướng, bà Dàn đã trở thành những vị Phật bả (Tứ pháp). Có thê thấy sự hình thành và phát triển của hệ thống chùa Tứ pháp chính là sự dug hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian khi trong chùa những vị thần có nguồn gốc tự nhiên được đây lên trên hệ thống tượng Phật.
Sự kết hợp này làm nên nét đặc sắc của Phật giáo dân gian Đồng bằng Bắc Bộ. Như vậy, qua một số chùa vừa ké trên cho thay các ngôi chùa đều có một đặc điểm chung là không chỉ thờ Phật mà còn thờ cả Thần. Sự dung hợp giữa giáo lý Phật giáo và triết lý của tín ngưỡng dân gian người Việt ở Đồng bang Bắc Bộ giống như một thé hòa quyện vào nhau, từ trong những lịch sử hình thành, thần tích, huyền thoại của mỗi ngôi chùa, đến nề nếp lối sinh hoạt tâm linh của người dân. Cũng trong thời kỳ này, bản lĩnh độc lập tự cường kết hợp truyền thong chống ngoại xâm, kế cả chống về mặt tư tưởng, cùng tính uyên chuyền, linh hoạt của cư dân lúa nước Đồng bằng Bắc Bộ nên khi Phật giáo du nhập và phát triển tại đây, đã phục vụ cho cái đạo yêu nước yêu dân của dân tộc, phục vụ những yêu cầu cuộc sống của dân tộc.
Với tinh thần phá chấp triệt dé và khả năng dung hợp rộng mở, với tính phóng khoáng va dân chủ của minh, Phật giáo Thiền tông đã bắt gặp tinh thần bình đăng, dân chủ, lòng nhân ái của người dân ở đây nên nó đã dễ dàng hòa hợp và bắt rễ nhanh chóng, đã ảnh hưởng sâu rộng trong đời sông con người. Khoảng từ thế kỷ 14, Phật giáo bắt đầu bước vào giai đoạn suy thoái đo nhiều nguyên nhân khác nhau: tầng lớp quý tộc nhà Trần ủng hộ Phật giáo mạnh mẽ đang dần mất đi uy lực về chính trị và kinh tế bởi chế độ sở hữu ruộng đất kiêu điền trang thái ấp khá phô biến đã bắt đầu tan rã.