ISSN 1859 - 1124 5 Ta CHÍ od | » se Pnattrienkiniate THANG 08/2016 NAM THU 27-SO8 TRUONG DAI HOC KINH TE TP. HO CHi MINH Phattrien kinhte Téng bién tap SU DINH THANH Thu ky Toa soan ĐÀO THỊ MINH HUYỀN TON CHI & MUC DICH Tap chí Phát triển Kinh tế (Tạp chí PTKT) của Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh được xuất bản từ năm 1990 với mã số ISSN 1859-1124, phát hành từ ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng. Tạp chí PTKT được xây dựng theo các tiêu chí của một tạp chí nghiên cứu khoa học hàn lâm quốc tế.
Mục tiêu của Tạp chí PTKT là góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học kinh tế, các chuyên gia và các nhà quản lý kinh tế, giảng viên đại học kinh tế, nghiên cứu viên kinh tế; công bé và phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học kinh tế ở trong và ngoài nước. Phạm vi nghiên cứu của tạp chí bao gồm các vấn đề về lý thuyết và thực tiễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế của Việt Nam và thế giới: kinh tế học, quản trị kinh đoanh, tài chính ngân hàng, tăng trưởng và phát triển kinh tế vĩ mô và vi mô theo hướng phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế. Những bài viết nghiên cứu gửi đến tạp chí sẽ được phản biện bởi các chuyên gia kinh tế đầu ngành, những nhà khoa học nghiên cửu kinh tế có uy tín ở trong và ngoài nước nhằm đảm bảo chuẩn mực và tăng cường giá trị nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm của các bài báo khoa học kinh tế. Tap chi PTKT hop tác, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước về các lĩnh vực: phản biện, viết bài, trao đổi học thuật, trợ giúp kỹ thuật và phát hành.
HOI DONG BIEN TẬP Jonathan Batten, Dai hoc Monash, Uc Fariborz Moshirian, Institute of Global Finance, Sydney, Uc Ramaprasad Bhar, UNSW Australia Trần Hoàng Ngân, Học viện Cán bộ TP.HCM Business School, Sydney, Uc Phạm Duy Nghĩa, Đại học Kinh tế TP.HCM Hoàng Thị Chỉnh, Đại học Kinh tế TP.HCM Phan Thị Bích Nguyệt, Đại học Kinh tế TP.HCM Mai Ngọc Cường, Đại học Kinh tế Quốc dân Nguyễn Đông Phong, Đại học Kinh tế TP.HCM Shelomentsev Andrey Gennadyevich, Viện Kinh tế S.Senanayake, Dai hoc Colombo, Sri Lanka thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, CHLB Nga Peter G. Szilagyi, CEU Business School — Central European Nguyễn Trọng Hoài, Đại học Kinh tế TP.HCM University, Hungary Đinh Phi Hổ, Đại học Kinh tế TP.HCM Trương Ba Thanh, Đại học Đà Nẵng Hồ Đức Hùng, Đại học Kinh tế TP.HCM Sử Đình Thành, Đại học Kinh tế TP.HCM Eric !ksoon Im, Dai hoc Hawaii - Hilo, My Nguyễn Xuân Thắng, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội VN Pierre Lefebvre, Dai hoc Quebec- Montreal, Canada Nguyễn Đình Thọ, Đại học Kinh tế TP. Lucey, Trinity College Dublin, Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế TP.HCM Dai hoc Dublin, lreland Võ Thanh Thu, Đại học Kinh tế TP. Malyadri, Government Degree College, Đoàn Thị Hồng Vân, Đại học Kinh tế TP.HCM Osmania University, An D6 Tam Bang Vu, Pai hoc Hawaii - Hilo, My Dương Thị Bình Minh, Đại học Kinh tế TP.HCM Thomas Wolke, Đại học Kinh tế- Luật Berlin, CHLB Duc Mazyrin Vladimir Moiseevich, Dai hoc Téng hợp Julian Ming - Sung Cheng, National Central University, Lomonosov, CHLB Nga Taiwan Phattrien kinhG ISSN 1859 - 1124 Năm xuất bản số đầu tiên: 1990 Nam thir hai muoi bay, thang 8/2016 Tập chí pm hành tuần đầu hằng thang 2.
Nguyén Trong Hoai & Pham Thé Anh Lan toả công nghệ từ F'DĨ và các nhân tổ quyết dinh: Ti tường hợp các doanh nghiệp Việt Nam 21. Nguyễn Thị Ngọc Trang, Trần Ngọc Thơ & Nguyễn Hữu Tuần Bắt ổn lãi suất và truyền dẫn lãi suất bán lẻ ở Việt Nam 42. Trần Thị Giang Tân & Trương Thùy Dương Ảnh hưởng các đặc tính của hội đồng quản trị đến sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính: Bang chứng thực nghiệm tại Liệt Nam ŠT. Trần Thị Hải Lý & Nguyễn Kim Đức Nghiên cứu quản trị công ty thông qua chỉ số CƠI, cấu trúc kim tự thắp và giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam 81.
Lê Đạt Chí & Trần Hoài Nam Hành vi quá tự tin của giám đốc điễu hành và khả năng sử dụng nợ vay cao của doanh nghiệp Việt Nam 98. Lê Thanh Sơn & Trần Tiến Khai Thu héi đất và thay đổi cơ cấu thu nhập của hộ gia đình nông thôn tại Thành phố Can Thơ Thư và bài xin gởi về tòa soạn: Giá: 50.000 đồng Đào Thị Minh Huyện Tòa soạn Tạp chí Phát triển Kinh tế 59C Nguyễn Đình Chiếu, P. 38229253 (tiếng Anh) Email: ptkt@ueh.vn Giấy phép số 242/GP-BVHTT cấp ngày 08/05/2001. In tại Công ty In Kinh tế - Trường Dại học Kinh tế TP.HCM Nguyễn Trọng Hoài & Phạm Thẻ Anh.
Tạp chí Phát triển Kinh té, 27(8), 02-19 N Lan toa công nghệ từ FDI và các nhân tố quyết định: Trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam NGUYEN TRONG HOAT Trường Đại học Kinh tế TP.HCM - hoaianh(0ueh.vn PHAM THE ANH Trường Đại học Nha Trang - anhpt@ntu.vn Ngày nhận Tom tat 30/05/2016 Nghiên cứu kiểm định hiệu ứng lan toả công nghệ từ đầu tư trực tiếp Ngàt nhận lại nước ngoài (FD]) và các nhân tô quyết định đến lan toả tại VN. Vận 10/08/2016 dụng khung phân tích dạng hảm san xuat Cobb-Douglas va phuong pháp ước lượng đữ liệu báng cho các doanh nghiép giai doan 201 1- Ngày dìnét đăng. 2013, kết quá nghiên cứu cho thay tôn tại hiệu ứng lan toả công nghệ 31/08/2016 từ FDI đến các doanh nghiệp chế biến chế tạo trong nước. Tuy nhiên, Maso tác động lan toá không diễn ra đồng nhất mà phụ thuộc vào đặc trưng của doanh nghiệp trong nước như mức độ vốn hóa, quy mô sản xuất, 05 16-E22-V06 khoáng cách công nghệ và vị trí địa lí.
Từ khóa Abstract FDI, lan toá công nghệ, The research investigates technology spillovers from foreign direct nhân tô quyết định, investment (FDI) and identifies spillover determinants in Vietnam. By doanh nghiệp chế biến applying the analytical framework based on the Cobb-Douglas chế tạo. production function and panel data estimation methods to the period of 2011-2013, the key findings indicate the existence of the Keywords: technology spillovers from FDI to domestic manufacturing firms FDI, technology Nevertheless, spillover effects are not homegeneous in the sense that spillovers, determinants, they largely depend on domestic firms’ characteristics such as capital processing intensity, production scale, technology gap. and geographical manufacturing locations.
enterprises Nguyễn Trọng Hoài & Phạm The Anh. Tap chí Phát triển Kinh tế. Giới thiệu Tại nhiều quốc gia đang phát triển (trong đó có VN), thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (Foreign Direct Investment) được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển. Nhiều chính sách ưu đãi FDI được chính phủ các nước đưa ra với kì vọng về những tác động trực tiếp như bổ sung nguồn vốn đầu tư, tăng thu ngân sách, tạo việc làm và tăng kim ngạch xuất khẩu.
Quan trọng hơn, FDI được kì vọng tạo ra tác động gián tiếp hay lan toả công nghệ tích cực giúp cải tiến trình độ kĩ thuật. công nghệ sản xuất, từ đó nâng cao năng suất của doanh nghiệp và kinh tế trong nước (Blomström & Kokko, 1998; Javorcik, 2004; Newman & céng su, 2015). Trong khi tác động trực tiếp của FDI duge phân tích rộng rãi thì tác động lan toả là hướng nghiên cứu khá mới và nhận được nhiều quan tâm trong thời gian gần đây. nghiên cứu này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh chính sách FDI có quá nhiều ưu đãi với nhà đầu tư và trong thực tiễn hiện đang bộc lộ những biểu hiện như ô nhiễm môi trường.
né tránh thuế và nhập khâu công nghệ lạc hậu. Các nghiên cứu về lan toa cong nghệ từ FDI cho thấy nhiều bằng chứng trái chiều tại các nước tiếp nhận, bao gồm cả VN. Một số nghiên cứu chỉ ra FDI ảnh hưởng tích cực đến năng suất cúa doanh nghiệp trong nước (Caves. 1974; Globerman, 1979; Li & cédng su.
2001; Kohpaiboon, 2006; Le & Pomfret, 2011: Nguyén Khac Minh & Nguyễn Việt Hung, 2012). Một số khác lại tìm thấy bằng chung vẻ ảnh hướng tiêu cực hoặc không tồn tại hiệu ứng lan toa tir FDI (Aitken & Harrison, 1999; Khawar, 2003: Truong & cong su, 2015). Tir béi canh đó. nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định giả thuyết liệu hiệu ứng lan toả công nghệ cúa FDI có tồn tại tại VN hay không: các nhân tố nào có ý nghĩa trong việc tiếp thu ảnh hưởng đến hiệu ứng lan toá công nghệ từ [FDI.
và các nhân tổ này có ảnh hưởng như thế nào đến năng suất lao động của các doanh nghiệp trong nước. Nghiên cứu được thực hiện cho các doanh nghiệp chế biến chế tạo VN giai doan 201 1— 2013 bang tiếp cận hàm sản xuất với hai đóng góp mới so với các nghiên cứu trước đây. Thứ nhất, nghiên cứu không chỉ kiểm định sự tồn tại của lan toa công nghệ từ FDI mà còn tìm kiếm các nhân tố quyết định lan toả bằng việc đưa vào các biến tương tác giữa FDI và đặc trưng doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp với những đặc trưng riêng sẽ có những phản ứng và khả năng khác nhau trong việc hấp thụ lan toả từ FDI.
Do đó, đặc trưng doanh nghiệp được xem là chỉ báo cho khả năng hấp thụ và ảnh hưởng quan trọng đến mức độ lan toả từ EFDI. Thứ hai, nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cấp doanh nghiệp trong ngành chế biến chế tạo VN giải đoạn 2011-2013. Đây là dữ liệu mới nhất so với các nghiên cứu trước vẻ lan toa cong nghé tai VN. Việc sử dụng đữ liệu cập nhật cho giai đoạn gân đây có ý nghĩa quan 4 Nguyễn Trọng Hoài & Phạm Thế Anh.
Tap chi Phat triên Kinh té, 27(8), 02-19 trọng khi phản ánh được sự phục hồi trong luồng vốn FDI vào VN từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. Cơ sở lí thuyết về lan toả công nghệ từ FDI Tác động lan toả được định nghĩa là những hiệu ứng gián tiếp hay ngoại tác về thông tin xuất phát từ những tương tác có chủ đích hay không có chủ đích giữa các chủ thể kinh tế theo thời gian (Rosenbloom & Marshallian, 1990). Lan toả công nghệ từ FDI có thể diễn ra khi một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp khó khăn trong việc bảo vệ những tài sản chuyên biệt của mình (ví dụ như bí quyết công nghệ và kĩ thuật sản xuất tiên tiến, bí quyết quản trị, kĩ năng Marketing, thông tin khách hàng, thị trường) khiến chúng bị rò rỉ ra bên ngoài cho doanh nghiệp trong nước (Caves, 1996; Blomström & Kokko, 1998). Nhờ khả năng rò rỉ, phát tán thông tin này mà FDI có thể gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất của doanh nghiệp và nền kinh tế địa phương.