CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Từ khi đổi mới, mở cửa hội nhập, nước ta chủ yếu tập trung thực hiện những giải pháp để thu hút mọi nguồn vốn để phát triển nền kinh tế, trong đó, thu hút các nguồn vốn ĐTTTNN (FDI) vào trong nước rất được coi trọng. Do vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu về ĐTTTNN mới chỉ tập trung một chiều tức nghiên cứu dòng vốn đầu tư vào. Các công trình nghiên cứu về dòng vốn ĐTTTRNN (OFDI) chưa có nhiều.
Hiện nay, hoạt động ĐTTTNN ở các nước trên thế giới đã phổ biến và đã có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đến hoạt động ĐTTTRNN, trong đó, có một số tác giả nghiên cứu các khía cạnh liên quan tới vai trò nhà nước với hoạt động ĐTTTRNN. Nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các nghiên cứu về vai trò và nguyên nhân của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Hoạt động ĐTNN nói chung và hoạt động ĐTTTNN nói riêng đã được các công ty Anh quốc thực hiện đầu tiên vào đầu thế kỷ 17 ở Ấn Độ (Dunning, J – Narula, 1996, tr122). Tuy nhiên đến tận cuộc cách mạng công nghiệp nửa cuối thế kỷ XIX người ta mới chú ý nghiên cứu về hoạt động đầu tư quốc tế này.
Có thể nói một trong những người đi tiên phong trong việc nghiên cứu hoạt động này là Lê Nin. Song, hoạt động ĐTNN ở thời điểm đó ít được thực hiện đầu tư trực tiếp mà chủ yếu là đầu tư gián tiếp. Do đó, những nghiên cứu của Lê Nin chỉ có ý nghĩa gợi mở cho các nhà nghiên cứu kinh tế đi sau trong việc nghiên cứu ĐTNN chứ chưa trực tiếp lý giải được vấn đề này. Hầu hết các hoạt động ĐTNN cũng như các nghiên cứu về hoạt động này đã bị gián đoạn do cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất.
Những số liệu về ĐTNN và các công trình nghiên cứu về ĐTNN trong thời gian trước 1945 còn sót lại không đáng kể nên mặc dù ĐTNN đã xuất hiện tương đối lâu nhưng đến lúc này hầu như vẫn chưa có một lý thuyết hoàn chỉnh nào về hoạt động đầu tư này. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các công ty lớn trên thế giới không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động ra khỏi biên giới quốc gia bằng việc xây dựng các 7 chi nhánh, cơ sở sản xuất mới hoặc mua lại và sát nhập với công ty nước ngoài đang tồn tại. Nhờ đó, hoạt động ĐTTTRNN tăng lên nhanh chóng nên đã bắt đầu được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu và từ đó xuất hiện các lý thuyết về ĐTNN. Cho đến nay, có khá nhiều học giả nổi tiếng nghiên cứu về hoạt động ĐTNN theo các khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, có thể nhóm các nghiên cứu này thành các nhóm nghiên cứu lý giải nguyên nhân dẫn đến hoạt động ĐTTTRNN; lý giải vai trò, lợi ích, tác động của hoạt động ĐTTTRNN với các bên tham gia đầu tư;… Giải thích sự xuất hiện của ĐTNN đã được nhiều nhà kinh tế học tập trung nghiên cứu. Các lý thuyết này tập trung trả lời cho các câu hỏi như tại sao phải hoặc nên ĐTTTRNN, những đối tượng nào có thể và nên ĐTTTRNN, đầu tư ở đâu, khi nào và bằng cách gì… Ngay từ đầu thập kỷ 30 của thế kỷ trước, Akamasu đã xây dựng nên mô hình “Đàn nhạn bay” (Flying – geese / Akamatsu Kaname, 1962). Theo Akamatsu, hoạt động ĐTTTNN cũng diễn ra tương tự như lộ trình phát triển của một ngành sản xuất. Lúc đầu hoạt động nước ngoài đầu tư vào quá trình sản xuất được hình thành, phát triển cùng với sự tăng lên của FDI.
Đến một giai đoạn nhất định, FDI vào giảm dần, bắt đầu xuất hiện hoạt động FDI ra nước ngoài (OFDI). Các quá trình đó xuất hiện, phát triển, suy thoái và cứ thế tạo ra mô hình. Để giải thích sâu hơn các nguyên nhân hoạt động ĐTTTRNN, có bốn lý thuyết chính liên là: Mô hình lý thuyết thương mại quốc tế của Heckcher và Ohlin – HO (1993); Học thuyết MacDougall – Kemp (Học thuyết sản phẩm cận biên của vốn - Marginal Product of Capital Theory); Lý thuyết vòng đời quốc tế của sản phẩm (International product life cycle – IPLC) của Raymond Vernon và lý thuyết Chiết trung của Dunning về sản xuất quốc tế (Dunning ”s Eclectic Theory of International production). Bên cạnh những lý thuyết này, ở mỗi giai đoạn lại có những học giả có cùng quan điểm lý giải cụ thể, chi tiết hơn Các lý thuyết kinh tế vĩ mô về ĐTNN tập trung nghiên cứu về lưu chuyển dòng vốn đầu tư.
Để giải thích hoạt động ĐTTTRNN, hai nhà kinh tế Eli Heckscher (1919) và Bertil Ohlin (1933) đã giải thích hiện tượng dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố đầu tư (vốn, lao động, công nghệ,…) giữa các nước. Qua đó, các tác giả tập trung giải thích dựa trên ba nhóm nguyên nhân chính.MacDougall (1960) – Kemp (1964); Krugman (1983); Dunning và Narula (1996) và lý thuyết của Richard S. Eckauus (1987) lại giải thích sự xuất hiện của ĐTTTRNN dựa trên sự chênh lệnh về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.Kojima (1987) lại giải thích sự xuất hiện 8 của ĐTTTRNN dựa trên sự khác nhau về tỷ suất lợi nhuận còn D. Salvatore (1933) lại giải thích dựa trên mức độ rủi ro của từng hạng mục đầu tư.
Lý giải nguyên nhân ĐTTTRNN là do sự chênh lệch về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư có khá nhiều tác giả như A. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có cách giải thích cụ thể khác nhau. MacDougall (1960) tập trung phân tích so sánh giữa chi phí và lợi ích của di chuyển vốn và cho rằng chênh lệch về năng suất cận biên của vốn là nguyên nhân của lưu chuyển vốn quốc tế. Cùng dựa trên tư tưởng đó, M.Kemp (1964) đã phát triển mô hình của A.
MacDougall thành mô hình Mc Dougall- Kemp. Ông cho rằng nước phát triển, dư thừa vốn đầu tư có năng suất cận biên của vốn thấp hơn năng suất cận biên của vốn ở nước đang phát triển, nước thiếu vốn và do vậy làm xuất hiện dòng lưu chuyển vốn giữa các nhóm nước. Với Krugman (1983), Dunning và Narula (1996) đều giải thích nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế do có sự thay đổi các chính sách kinh tế vĩ mô như tài chính, ngoại hối,.của các nước tham gia đầu tư. Tiếp đó, một trong các nghiên cứu về ĐTTTRNN điển hình là công trình nghiên cứu của A.Kamatsu, Kaname, “A historical partern of economic growth in developing countries”, trong đó tác giả đã minh chứng rõ nét các giai đoạn phát triển của một quốc gia gắn liền với con đường hình thành và phát triển của dòng vốn ĐTTTRNN của quốc gia đó.
Về các nghiên cứu lý giải vai trò của ĐTNN với nền kinh tế thế giới và với nước tham gia đầu tư, MacDougall – Kemp (1960), K. Kojima (1978) giải thích nhờ khai thác hiệu quả các yếu tố đầu tư ở các nước. Đầu tư nước ngoài làm gia tăng sản lượng thế giới; mang lại các yếu tố cần thiết như vốn, công nghệ, mạng lưới marketing với các nước đi đầu tư. Các nghiên cứu về sự tác động của ĐTTTRNN đến thay đổi cơ cấu kinh tế có lý thuyết kết cấu (Structural theories) nhấn mạnh, ĐTNN tác động đến chuyển dịch cơ cầu kinh tế các nước đang phát triển theo chiều hướng tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp, giảm tỷ trọng các ngành kinh tế truyền thống.
Còn Hymer (1976), Kindleberger (1969) và Hirschman (1971) lại cho rằng ĐTTTNN làm thay đổi cơ cấu kinh tế thông qua việc chuyển giao công nghệ, vốn, mạng lưới phân phối,… Bên cạnh đó, các lý thuyết vi mô nghiên cứu về hoạt động ĐTNN đều xoay quanh trả lời câu hỏi tại sao các công ty lại ĐTTTRNN. Nhóm nghiên cứu đầu tiên phải kể đến là các lý thuyết xuất khẩu tư bản của V. Lê Nin, Mácxít như Baran (1957), Dos Santos (1974) và Wallerstein (1974). Trên cở sở quy luật giá trị thặng dư, xuất khẩu giá trị tư bản để thu được giá trị thặng dư ở nước ngoài là đặc trưng kinh tế của 9 Chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn độc quyền đó là Chủ nghĩa đế quốc.
Tiếp đến là nhóm các lý thuyết lợi thế độc quyền, lý thuyết tổ chức công nghiệp. Ban đầu, Charles Kindleberger (1969) và Richard E. Caves (1971) giải thích do những sản phẩm mới thường có xu hướng độc quyền và có giá thành hạ nên các công ty đầu tư sản xuất ra thị trường quốc tế để khai thác lợi thế độc quyền nhằm tối đa hóa lợi nhuận; Robert Z. Aliber (1970) giải thích do rào cản thuế quan vì thuế làm tăng giá nhập khẩu và mở rộng quy mô thị trường nên xuất hiện ĐTTTRNN.
Sau đó, Stephen Hymer (1976) lại giải thích do kết cấu của thị trường độc quyền đã thúc đẩy các công ty của Mỹ mở rộng ra thị trường quốc tế để khai thác lợi thế của mình về công nghệ, kỹ thuật quản lý,…. Để lý giải hoạt động ĐTTTRNN tại sao lại tập trung vào các công ty lớn, các TNCs,R.Vernon (1974) thông qua lý thuyết địa điểm công nghiệp đã lý giải TNCs chuyển sản xuất ra nước ngoài nhằm gần nguồn cung cấp nguyên liệu hay thị trường tiêu thụ để giảm bớt chi phí vận tải, nhờ vậy sẽ hạ thấp giá thành sản phẩm. Còn dựa trên lý chuyết chiết trung của Dunning, các học giả Rugman (1983), Burckley (1988) và R. Jenkin (1987) qua lý thuyết nội bội hóa lại cho rằng thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là động lực thúc đẩy TNCs ĐTTTRNN.
Tiếp đó, một lý thuyết khác cũng có ảnh hưởng lớn hơn đến việc lý giải hoạt động ĐTTTRNN là Lý thuyết về vòng đời sản phẩm của Vernon (1966). Lý thuyết này cho phép giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh của họ từ chỗ xuất khẩu sản phẩm sang thực hiện ĐTTTRNN. Có hai lý thuyết nghiên cứu về chu kỳ sản phẩm. Đầu tiên, Raymon Vernon (1966) nghiên cứu nhằm lý giải hiện tượng ĐTTTNN trên cơ sở phân tích các giai đoạn phát triển sản phẩm và lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp (Catching–up product cycle theory) của Akamatsu (1962) và sau này có L.
Zambon và Pettigrew cũng có cùng quan điểm này. Vào giữa những năm 1970, một số nhà kinh tế học như Buckley và Casson (1976), Lundgren (1977) và Swedenborg (1979), đề xuất áp dụng lý thuyết nội bộ hóa để lý giải sự phát triển của các MNC trên cơ sở lý thuyết về chi phí giao dịch.