Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp. Thiết kế nghiên cứu đề tài. Thực trạng quản lý đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn Viễn thông Quân đội.
Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn Viễn thông quân đội. 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ RA NƢỚC NGOÀI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý đầu tƣ ra nƣớc ngoài của doanh nghiệp và những vấn đề liên quan 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc Đây là nội dung nghiên cứu được nhiều học giả nước ngoài quan tâm nhiều nhất và có nhiều công trình nghiên cứu nhất.
Tiêu biểu cho nhóm nghiên cứu này bao gồm: Nghiên cứu của De Mello (1999) lấy mẫu ở 16 nước phát triển và 17 nước đang phát triển, ông đã chỉ ra rằng: FDI ròng của các doanh nghiệp có hiệu quả tích cực và quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế thời kỳ 1970 - 1990. Song, đối với các nước đang phát triển thì FDI có tác động đến tăng trưởng kinh tế lớn hơn, còn đối với các nước phát triển thì nhỏ hơn. Nghiên cứu của Campos và Kionoshita (2002) với mẫu nghiên cứu nhỏ hơn, bao gồm 25 nước Trung và Đông Âu, cùng các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi thuộc Liên Xô cũ, các tác giả cho rằng “FDI của các doanh nghiệp có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi”. Bởi vì, tại các nước đang chuyển đổi có quá trình CNH diễn ra mạnh mẽ hơn và họ có lực lượng lao động được đào tạo tốt hơn.
Nghiên cứu của các học giả Berthelemy và Demurger (2000); Graham và Wada (2001) và Buckey et al (2002), sử dụng số liệu FDI phân theo địa phương của Trung Quốc cho thấy, FDI các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các tỉnh. Các tỉnh ven biển, nơi thu hút phần lớn FDI của Trung Quốc đã sử dụng FDI có hiệu quả hơn so với các tỉnh khác. Nghiên cứu của Borensztein et al (1995 - 1998) sử dụng số liệu của 69 nước đang phát triển giai đoạn 1970 - 1989 để hồi quy. Kết quả cho thấy FDI 4 z ròng chỉ có ảnh hưởng nhẹ đến tăng trưởng, nhưng khi sử dụng số nhân của FDI với trình độ của lực lượng lao động làm biến độc lập thì biến này có hệ số dương và ý nghĩa thống kê.
Ông kết luận, FDI chỉ mang lại tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế khi nước nhận đầu tư có lực lượng lao động đạt đến trình độ nhất định. Dưới mức đó, FDI hầu như không có tác động đến tăng trưởng kinh tế. Borensztein et al (1995), lại cho rằng, tốc độ tăng trưởng của các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào khả năng tiếp nhận và hấp thụ công nghệ mới. Họ cũng đồng ý rằng sự đóng góp chính của FDI từ các doanh nghiệp là thúc đẩy tiến bộ về công nghệ của nước sở tại.
Hermes và Lensink cho rằng, để khai thác tối đa hiệu quả của FDI, nước tiếp nhận đầu tư cần phát triển thị trường tài chính. Hệ thống tài chính cần phát triển đến một trình độ nhất định để huy động tiết kiệm, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư đổi mới công nghệ. Có như vậy, doanh nghiệp trong nước mới tận dụng được công nghệ từ các doanh nghiệp FDI nhiều hơn. Nghiên cứu của Ramirez (2000) sử dụng số liệu vốn FDI tích luỹ ước lượng đóng góp FDI đến tăng trưởng kinh tế của Mexico giai đoạn 1960 - 1995.
Ông thấy rằng, vốn FDI tác động tích cực đến xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế thông qua năng suất lao động. Ramirez (2000) đưa ra kết luận, để FDI tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì mới có thể tiếp nhận được công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý. Nghiên cứu của Li và Liu (2005) qua khảo sát 88 quốc gia có tiếp nhận FDI (bao gồm cả nước phát triển và đang phát triển) đã chỉ ra rằng, FDI và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau. Theo các tác giả FDI từ các doanh nghiệp không những trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế, mà còn thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực và công nghệ.
Một điểm đáng lưu ý trong nghiên cứu này là, nước nhận FDI phải có nguồn nhân lực và công nghệ đạt tới trình độ nhất định. Nếu nước nhận FDI có trình độ nguồn nhân lực và công nghệ thấp hơn nước đầu tư thì sẽ tác động tiêu cực đến nước nhận FDI. Aizenman, J and Noy, I (2006) trong nghiên cứu “Examination of U. 5 z inbound and outbound Direct Investment” [27, tr.3] đã chỉ ra các nguyên nhân khác khiến các nhà đầu tu ̛ Mỹ phải đầu tu ̛ ra nước ngoài để tìm kiếm lợi nhuận và tránh những rủi ro do phải ca ̣nh tranh ngay tại Mỹ.
Có cùng quan điể m tre ̂n là các tác giả khác : Douglas Hotlz Eaki và cọ ̂ng sự (2005) trong nghiên cứu “Why Does U. Investment Abroad Earn Higher Returns Than Foreign Investment in the United States?” [30, tr.1]; Marcela Meirelles Aurelio (2006) “Going Global: The Changing Pattern of U. Investment Abroad” [31] các tác giả này chỉ ra rằng để tối đa hoá lợi nhuạ ̂n, các công ty xuyên quố c gia (TNC) sẽ tìm cách ta ̆ng giảm báo cáo lơ ̣i nhuạ ̂n của co ̂ng ty con ta ̣i những nước có mức thuế cao nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Ngoài ra , trong các nghie ̂n cứu của James K.Jackson (2008, 2011, 2012) [29] còn cho rằng FDI của Mỹ ra nu ̛ớc ngoài mọ ̂t phầ n là tạ ̂n du ̣ng lơ ̣i thế chi phí lao đọ ̂ng thấ p ho ̛n, còn phầ n lớn là hu ̛ớng tới phục vụ thị tru ̛ờng mà họ đặt chi nhánh và đẩ y ma ̣nh xuấ t khẩ u của công ty ho ̣ ra nước ngoài.
Nghiên cứu của Buckley et al (2002) là một trong rất ít các nghiên cứu cho rằng FDI tác động đến tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với đầu tư trong nước của Trung Quốc. Nghiên cứu đi đến kết luận FDI không có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế bằng các nguồn vốn khác trong nước. Khi nghiên cứu dòng vốn FDI các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư sang các nước đang phát triển, Nunnenkamp và Spatz (2003) đã đưa ra quan điểm rằng, FDI không có tác động đáng kể nào đến tăng trưởng kinh tế ở các nước tiếp nhận đầu tư, thậm chí FDI còn có tác động tiêu cực. Đặc biệt ở các quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, trình độ lực lượng lao động không cao, độ mở cửa nền kinh tế thấp thì càng thu hút nhiều FDI càng ảnh hưởng xấu đến chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Kết quả nghiên cứu của Buckley et al 2002 cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Dutt (1997), khi ông kiểm định về hiệu quả của FDI đầu tư từ các nền kinh tế phương Bắc vào các nền kinh tế phương Nam. 6 z Fukao et al (2003) đã phân tích các thay đổi gần đây trong hoạt động thương mại của các nước Đông Á và phân tích vai trò của FDI trong những thay đổi đó trong giai đoạn 1988 - 2000. Phân tích của họ cho thấy rằng trao đổi thương mại giữa các doanh nghiệp cùng ngành của các nước Đông Á đã tăng lên nhanh chóng trong thời gian nghiên cứu. Đặc biệt là trong trường hợp ngành công nghiệp điện tử nói chung và ngành công nghiệp máy móc chính xác nói riêng.
Họ cũng thấy rằng vốn FDI có tác động rất tích cực trong trao đổi thương mại trong ngành công nghiệp thiết bị điện. Cuối cùng, họ kết luận rằng trong khu vực Đông Á, FDI của các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự gia tăng nhanh chóng của trao đổi thương mại giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành. Aizenmen và Noy (2006) nghiên cứu mối quan hệ hai chiều giữa FDI và thương mại của hai nhóm nước khác nhau: các nước phát triển và các nước đang phát triển. Họ chỉ ra rằng mối quan hệ hai chiều giữa thương mại và FDI mạnh hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển.
FDI thúc đẩy xuất khẩu mạnh hơn là xuất khẩu hàng hoá. Trong nghiên cứu của James K .S Direct Investment Abroad: Trends and Current Issues” [29, tr.2] đã cho rằ ng giai đoa ̣n từ na ̆m 2002 đến năm 2007 tổ ng số tiề n đầ u tu ̛ ra nước ngoài của Mỹ trung bin ̀ h nhiề u gấ p 2 lầ n đầ u tư cho nề n kinh tế Mỹ , nó phản ánh giai đoạn nề n kinh tế Mỹ ta ̆ng trưởng chậm và việc làm trong nu ̛ớc của họ giảm sút do các công ty xuyên quố c gia của Mỹ bi ̣mấ t dầ n thi ̣phầ n trong nu ̛ớc khi ta ̆ng đầ u tư mở rọ ̂ng chi nhánh ở nu ̛ớc ngoài. Nhưng ở mọ ̂t nghiên cứu khác của James K.Jackson (2011) [29], hầ u hế t các nhà kinh tế Mỹ đề u kế t luạ ̂n rằ ng xét một cách tổ ng thể đầ u tư trực tiế p ra nước ngoài không dẫn đế n việc làm it́ hơn hoặc thu nhập thấ p ho ̛n cho người dân Mỹ và phầ n lớn viẹ ̂c làm bi ̣mấ t giữa các co ̂ng ty sản xuấ t của Mỹ trong thạ ̂p kỷ qua là phản ánh viẹ ̂c tái co ̛ cấ u ngành co ̂ng nghiệp chế ta ̣o Mỹ mọ ̂t cách rấ t sa ̂u rộng. Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Harvard College nhu ̛ Mihir A.
Fritz Foley, and James R. Chamber of Commerce (2015) trong “Secure U. Investment Overseas” [31] cho rằ ng các TNC khi tiế n hành FDI ra nu ̛ớc ngoài cũng gián tiế p ta ̣o the ̂m việc làm cho lao đọ ̂ng Mỹ. Đa số các co ̂ng việc này là do các TNC đầ u tu ̛ vào các hoạt đọ ̂ng nghiên cứu và phát triể n , là co ̂ng việc dành cho các chuyên gia Mỹ có kỹ na ̆ng cao với mức lu ̛ơng tương ứng.
Chamber of Commerce còn cho biế t the ̂m rằ ng Chiń h phủ Mỹ khá chú trọng tới đàm phán các hiệp đinh ̣ đầ u tư song phương (BIT) nhằ m bảo đảm lơ ̣i ích và bảo vệ nhà đầu tu ̛ Mỹ khi đầu tu ̛ ra nước ngoài.