Chương 1: Hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư tài chính của Tổng công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) 4 z Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động đầu tư tài chính của Tổng công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) 5 z CHƢƠNG 1 HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1. Tổng quan về hoạt động đầu tƣ của doanh nghiệp 1. Khái niệm đầu tư Đầu tư theo nghĩa chung nhất là việc bỏ vốn hay chi dùng vốn cùng với các nguồn lực khác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai. Vốn và các nguồn lực khác cho đầu tư là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ, quyền sở hữu.
Các nguồn lực này sẽ được chủ đầu tư sử dụng để tạo ra tài sản mới hoặc nâng cao chất lượng của các tài sản hiện có. Mục đích cuối cùng của các hoạt động đầu tư là thu được những kết quả nhất định lớn hơn so với nguồn lực đã bỏ ra. Kết quả này cũng biểu hiện dưới nhiều hình thức: với chủ đầu tư đó là lợi nhuận, với nền kinh tế đó là sự thỏa mãn nhu cầu cho sinh hoạt và sản xuất, đóng góp cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống cho các thành viên trong xã hội. Phân loại hoạt động đầu tư Xuất phát từ bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại chúng ta có thể phân loại hoạt động đầu tư thành: đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển.
Đầu tư tài chính: Là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất cố định trước hoặc lãi suất tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư 5 z tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức hoặc cá nhân đầu tư. Đầu tư thương mại: Là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và bán. Loại hình đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa giữa người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng.
Đầu tư phát triển: Là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động, trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa, cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. Đặc điểm của hoạt động đầu tư tài chính Hoạt động đầu tư tài chính không tạo ra sản phẩm mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Đầu tư tài chính có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian tài chính. Đầu tư tài chính trực tiếp là việc các chủ thể dư thừa vốn chuyển vốn trực tiếp cho các chủ thể thiếu vốn là người chi tiêu cuối cùng bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp từ người phát hành, tức là người cần vốn.
Trong trường hợp này, luồng tiền vận động thẳng từ người thừa vốn sang người thiếu vốn. Đầu tư tài chính gián tiếp thể hiện ở chỗ các chủ thể thừa vốn không trực tiếp cung ứng vốn cho người thiếu vốn là người sử dụng cuối cùng mà gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như ngân hàng, các tổ chức nhận 6 z tiền gửi tiết kiệm và cho vay, các công ty bảo hiểm hay các tổ chức tài chính tín dụng khác. Vai trò của hoạt động đầu tư tài chính Vai trò nổi bật nhất của hoạt động đầu tư tài chính là hoạt động đầu tư cung cấp một nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, tức là chuyển vốn từ tiết kiệm sang đầu tư. Hoạt động đầu tư tài chính giúp chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi đến những người cần vốn để đầu tư vào tài sản hữu hình, tạo ra hình thức chuyển vốn theo một phương thức sao cho những rủi ro không tránh khỏi, liên quan đến dòng tiền mà tài sản hữu hình tạo ra, được phân bổ lại giữa những người đang gọi vốn và những người cung cấp vốn.
Với sự hoạt động của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển một cách dễ dàng, khi cần có thể rút ra nhanh chóng thông qua việc chuyển nhượng, mua bán các công cụ tài chính trên thị trường tài chính, điều này đã khuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư. Hoạt động đầu tƣ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm 1. Tổng quan về doanh nghiệp bảo hiểm Theo điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam ban hành năm 2000 kinh doanh bảo hiểm được hiểu là “Hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Cũng theo điều 3 khoản 5, doanh nghiệp bảo hiểm là “doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy 7 z định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm”.
Công ty bảo hiểm có những đặc điểm sau: Thứ nhất, công ty bảo hiểm là doanh nghiệp chuyên ngành. Công ty bảo hiểm là doanh nghiệp kinh doanh bình đẳng như các doanh nghiệp khác hoạt động trong nền kinh tế quốc dân, do đó cũng mang đặc trưng của một doanh nghiệp, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình và trong khuôn khổ pháp lý nhất định. Tuy vậy, ngành bảo hiểm là một ngành đặc thù trong nền kinh tế, ngoài những quy định của Luật doanh nghiệp và hành lang pháp lý chung, công ty bảo hiểm còn hoạt động dưới sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm và những văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật này. Bên cạnh đó, công ty bảo hiểm còn chịu sự quản lý chặt chẽ của cơ quan quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm thường là Bộ Tài chính hoặc những cơ quan có thẩm quyền tương đương do Nhà nước quy định.
Sản phẩm bảo hiểm là loại hình sản phẩm đặc thù, đây là sản phẩm không thể định hình hay định dạng, người mua không mong đợi được hưởng do sản phẩm này gắn liền với rủi ro. Chỉ khi xảy ra rủi ro thì người mua bảo hiểm mới nhận thức được nó thông qua việc bồi thường trên cơ sở số tiền bảo hiểm. Thứ hai, công ty bảo hiểm là trung gian tài chính. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm thể hiện vai trò trung gian tài chính của công ty bảo hiểm.
Thông qua việc cung cấp những dịch vụ bảo hiểm cho khách hàng với mức phí bảo hiểm phù hợp thì tổng nguồn phí bảo hiểm sẽ hình thành nên doanh thu phí bảo hiểm gốc và những quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. Do đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm là phí bảo hiểm được thanh toán trước những cam kết thanh toán sẽ được thực hiện sau một khoảng thời gian. Chính vì thế, phí bảo hiểm thu được chính là khoản nợ của công ty bảo hiểm đối với khách hàng nhằm đảm bảo những cam kết đối với những người tham gia bảo hiểm. Hoạt động mang tính chất then chốt, mang ý nghĩa sống còn với công ty bảo 8 z hiểm chính là hoạt động đầu tư.
Nguồn vốn tích tụ dưới dạng phí bảo hiểm sẽ được mang đi đầu tư nhằm thu lãi. Ngoài ra công ty bảo hiểm còn thực hiện những hoạt động đặc trưng của trung gian tài chính như: trung gian về quy mô nguồn vốn tập trung những nguồn vốn với quy mô nhỏ, đối tượng sử dụng rộng, những khoản tiết kiệm trong từng hộ gia đình thành nguồn vốn quy mô lớn, tập trung; trung gian về thời hạn từ nguồn phí bảo hiểm thu định kỳ trong những thời hạn khác nhau thì công ty bảo hiểm có thể chuyển thành nguồn vốn lớn được đầu tư theo thời hạn cụ thể; trung gian về tài sản tài sản bằng tiền từ những quỹ dự phòng nghiệp vụ sẽ được chuyển thành những tài sản tài chính (nếu đầu tư tài chính) hoặc tài sản thực (nếu đầu tư bất động sản, góp vốn liên doanh sản xuất.) Thứ ba, công ty bảo hiểm thường không vay vốn phục vụ kinh doanh bảo hiểm. Khi mới thành lập công ty bảo hiểm phải có mức vốn điều lệ nhất định và thông thường sẽ phải ký quỹ một phần vốn điều lệ để đảm bảo khả năng thanh toán. Phần còn lại sẽ được sử dụng tích lũy tại công ty dùng cho những hoạt động đầu tư ban đầu và làm cơ sở đảm bảo cho các hợp đồng bảo hiểm mới.
Sau khi những hợp đồng bảo hiểm được cung cấp, số phí bảo hiểm thu được sẽ trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ theo quy định, một phần chuyển tái bảo hiểm. Các quỹ này cùng với vốn chủ sở hữu sẽ được phép đầu tư theo quy định nhằm thu lợi nhuận. Nguồn lợi nhuận này chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ lợi nhuận của công ty bảo hiểm. Theo thời gian hoạt động, quỹ này sẽ ngày càng lớn và công ty bảo hiểm trở thành những nhà đầu tư hùng mạnh.
Thứ tư, hoạt động của công ty bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tầm quan trọng của công ty bảo hiểm được xét trên hai khía cạnh là khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội. Trên khía cạnh kinh tế, công ty bảo hiểm có vai trò đảm bảo an toàn cho các khoản đầu tư. Có thể nói chính các công ty bảo hiểm là người xây dựng nên những thành phố, nhà máy rộng 9 z lớn.