Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2016–2021, công tác đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đã tạo ra bước đột phá mạnh mẽ về diện mạo kinh tế – xã hội. Huyện Đức Linh có tổng diện tích tự nhiên 54.657,12 ha với 12 đơn vị hành chính cấp xã, đạt chuẩn nông thôn mới năm 2020 và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 8,5% trong giai đoạn 2011–2020. Để đáp ứng nhu cầu phát triển hạ tầng, nguồn vốn đầu tư công đã được tập trung phân bổ cho các lĩnh vực then chốt như giao thông vận tải với 126,23 tỷ đồng (chiếm 22,12% tổng vốn), giáo dục và đào tạo với 98 tỷ đồng (chiếm 18,23%), cùng nông nghiệp với 102 tỷ đồng (chiếm 17,93%). Mặc dù số lượng dự án có xu hướng tinh gọn từ 52 công trình năm 2016 xuống còn 41 công trình năm 2018 nhằm tránh phân bổ dàn trải theo Luật Đầu tư công, quá trình triển khai thực tế vẫn đối mặt với hàng loạt rủi ro nghiêm trọng về chậm tiến độ, phát sinh chi phí và vướng mắc giải phóng mặt bằng.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro dự án xây dựng cơ bản, nhận diện và đo lường định lượng các nhân tố rủi ro thực tế tại huyện Đức Linh giai đoạn 2016–2021, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cho kế hoạch đầu tư công trung hạn 2021–2025. Về mặt học thuật và thực tiễn, nghiên cứu đóng vai trò là cơ sở khoa học giúp các nhà quản trị địa phương rút ngắn độ trễ phê duyệt dự án (vốn kéo dài từ 6 tháng trở lên trong nhiều trường hợp thực tế), kiểm soát chặt chẽ sai sót thiết kế và tối ưu hóa 100% hiệu quả giải ngân vốn ngân sách nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý dự án hiện đại của Viện Quản lý Dự án Quốc tế (PMI, 2004) với 9 nội dung quản lý cốt lõi: quản lý tổng thể, phạm vi, thời gian, chi phí, chất lượng, nguồn lực, thông tin, hợp đồng - đấu thầu và quản lý rủi ro. Đồng thời, đề tài tiếp cận trường phái quản trị rủi ro hiện đại, khẳng định rằng rủi ro trong xây dựng không chỉ mang tính bất định tiêu cực mà hoàn toàn có thể chủ động nhận diện, định lượng, phân loại và giảm thiểu thông qua các công cụ quản trị khoa học. Khung pháp lý điều chỉnh trực tiếp bao gồm Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14, Luật Xây dựng sửa đổi số 62/2020/QH14 và Nghị định số 15/2021/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

Mô hình nghiên cứu kế thừa lý thuyết phân loại nhóm rủi ro của Gajewska và Ropel (2011) cùng mô hình đánh giá rủi ro dự án nông thôn mới của Trần Quang Phú (2016), tích hợp thành 5 nhóm nhân tố rủi ro chính với 20 biến quan sát:

  • Nhóm rủi ro từ Chủ đầu tư (gồm 4 biến: phê duyệt chậm, phân bổ vốn không kịp thời, năng lực ban quản lý, thiếu trách nhiệm trong quản trị).
  • Nhóm rủi ro từ Tư vấn xây dựng (gồm 4 biến: sai sót hồ sơ khảo sát, sai sót hồ sơ thiết kế, tư vấn giám sát thiếu năng lực, đấu thầu chưa chuyên nghiệp).
  • Nhóm rủi ro từ Nhà thầu thi công (gồm 4 biến: tiến độ chậm trễ, an toàn lao động kém, máy móc thiết bị không đảm bảo, thiếu trách nhiệm thi công).
  • Nhóm rủi ro từ Thầu phụ và nhà cung ứng (gồm 4 biến: hủy hợp đồng, chậm cung ứng vật tư, lao động tay nghề yếu, nguyên vật liệu kém chất lượng).
  • Nhóm rủi ro từ Cộng đồng địa phương và môi trường (gồm 4 biến: phản ứng tiêu cực, biến động giải phóng mặt bằng, biến động kinh tế và thời tiết tự nhiên).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập toàn bộ các báo cáo tổng kết, kế hoạch đầu tư công và số liệu giải ngân của Ủy ban nhân dân huyện Đức Linh giai đoạn 2016–2021, bao gồm dữ liệu phân bổ vốn trên 7 lĩnh vực hạ tầng trọng điểm.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát chính thức trên cỡ mẫu N = 130 cán bộ, công chức, viên chức và chuyên viên kỹ thuật đang trực tiếp quản lý, điều hành dự án tại Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng huyện, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Tài chính – Kế hoạch cùng đại diện Ủy ban nhân dân 12 xã, thị trấn. Cơ cấu mẫu nghiên cứu gồm 85 nam (65,4%), 45 nữ (34,6%); 50% ở độ tuổi 31–40; 54,6% có trình độ đại học và 13,8% có trình độ sau đại học; 90,8% là chuyên viên và cán bộ kỹ thuật trực tiếp.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phần mềm SPSS để kiểm định độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha (tiêu chuẩn chấp nhận Cronbach's Alpha > 0,6 và hệ số tương quan biến - tổng > 0,3), kết hợp thống kê mô tả tần số và tính giá trị trung bình Mean. Thang đo đạt độ tin cậy vượt trội với hệ số Cronbach's Alpha lần lượt là: Chủ đầu tư đạt 0,685; Tư vấn xây dựng đạt 0,827; Nhà thầu thi công đạt 0,792; Thầu phụ và cung ứng đạt 0,925; Cộng đồng địa phương đạt 0,724. Toàn bộ 20 biến quan sát đều có tương quan biến - tổng lớn hơn 0,424, chứng minh tính vững chắc của mô hình đo lường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê mô tả từ 130 phiếu khảo sát đã chỉ ra các điểm nghẽn rủi ro nổi bật nhất trong quản lý dự án xây dựng cơ bản vốn đầu tư công tại huyện Đức Linh:

Thứ nhất, rủi ro xuất phát từ Chủ đầu tư chiếm vị trí hàng đầu. Biến "Dự án phê duyệt chậm tiến độ" đạt mức độ đồng thuận cao nhất toàn bộ khảo sát với điểm trung bình Mean = 4,19, trong đó 30,0% đánh giá hoàn toàn đồng ý và 59,2% đánh giá đồng ý (tổng mức độ đồng thuận lên tới 89,2%). Điển hình tại địa phương, dự án Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện giai đoạn 2 đã bị kéo dài thời gian phê duyệt hơn 6 tháng do phải điều chỉnh chủ trương đầu tư. Tiếp đến, biến "Nguồn vốn phân bổ không đủ và không kịp thời" đạt Mean = 4,05 với 60,0% đồng ý, trực tiếp gây đình trệ thanh toán khối lượng hoàn thành.

Thứ hai, hạn chế về năng lực quản lý dự án và giải phóng mặt bằng. Biến "Năng lực của Ban Quản lý" được đánh giá rủi ro rất cao với Mean = 4,01 (59,2% đồng ý). Thực tế công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng thiếu dứt điểm đã làm dự án Công viên huyện giai đoạn 2 bị chậm tiến độ 6 tháng chỉ vì vướng mắc đền bù với 1 hộ dân duy nhất.

Thứ ba, sai sót kỹ thuật từ đơn vị Tư vấn xây dựng. Biến "Hồ sơ khảo sát thiết kế sai sót" có tỷ lệ hoàn toàn đồng ý cao nhất nhóm tư vấn với 35,4% và Mean = 3,92. Biến "Hồ sơ thiết kế sai sót" bám sát với 34,6% hoàn toàn đồng ý và Mean = 3,89. Các sai lệch về đo đạc địa hình, đánh giá địa chất không sát thực tế dẫn đến việc phải điều chỉnh thiết kế nhiều lần, làm đội vốn dự toán ban đầu.

Thứ tư, thiếu trách nhiệm và thiết bị lạc hậu từ Nhà thầu thi công. Biến "Thiếu trách nhiệm trong quá trình thi công" đạt Mean = 3,82 (36,2% đồng ý, 30,0% hoàn toàn đồng ý). Biến "Máy móc, thiết bị không đảm bảo" đạt Mean = 3,75 và "Tiến độ thi công chậm" đạt Mean = 3,74, phản ánh năng lực thi công thực tế của một số nhà thầu địa phương còn hạn chế.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm tại huyện Đức Linh phản ánh sự tương quan nhân quả chặt chẽ trong chuỗi quản trị dự án công. Việc phê duyệt chậm trễ ở khâu chuẩn bị đầu tư làm lỡ chu kỳ phân bổ ngân sách hàng năm, dẫn đến việc vốn bố trí bị điều chuyển sang công trình khác, tạo thành vòng luẩn quẩn kéo dài thời gian thi công. Khi dữ liệu được trực quan hóa qua biểu đồ cột phân phối tần số Likert và bảng ma trận tương quan, sự vượt trội về mức độ rủi ro của nhóm Chủ đầu tư (Mean từ 3,96 đến 4,19) và nhóm Tư vấn xây dựng (Mean từ 3,74 đến 3,92) thể hiện rõ đây là hai "vùng trũng" cần ưu tiên can thiệp.

Kết quả này hoàn toàn đồng nhất với công trình nghiên cứu của Ehsan và cộng sự (2010) khi khẳng định lỗi thiết kế ban đầu và thay đổi phạm vi là nguồn gốc chính gây chậm tiến độ. Đồng thời, nghiên cứu tái khẳng định nhận định của Nguyễn Thị Thúy và Đinh Tuấn Hải (2018) về việc chất lượng hồ sơ khảo sát và năng lực giám sát hiện trường quyết định trực tiếp đến nguy cơ đội vốn và kéo dài hợp đồng xây dựng công.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả đánh giá thực trạng, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm giảm thiểu rủi ro cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản vốn đầu tư công tại huyện Đức Linh giai đoạn 2021–2025:

  • Tối ưu hóa quy trình phê duyệt và phân bổ vốn của Chủ đầu tư:

    • Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Đức Linh, Phòng Tài chính – Kế hoạch, Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng huyện.
    • Hành động cụ thể: Rà soát, chuẩn hóa quy trình thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật; lập kế hoạch vốn trung hạn linh hoạt, gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ giải ngân từng quý.
    • Chỉ số mục tiêu: Rút ngắn thời gian thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư xuống dưới 45 ngày; giảm tỷ lệ dự án chậm phê duyệt (Mean = 4,19) xuống dưới 5% trong giai đoạn 2023–2025.
  • Nâng cao chất lượng khảo sát, thiết kế và chuyên nghiệp hóa đấu thầu:

    • Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý dự án huyện, các đơn vị tư vấn thiết kế và tư vấn thẩm tra.
    • Hành động cụ thể: Thiết lập tiêu chí chấm thầu nghiêm ngặt về năng lực kinh nghiệm của chủ trì khảo sát, thiết kế; áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng từ 5% đến 10% giá trị gói thầu nếu hồ sơ thiết kế để xảy ra sai sót buộc phải điều chỉnh dự toán quá 5% tổng mức đầu tư.
    • Chỉ số mục tiêu: Giảm thiểu hoàn toàn các lỗi sai sót hồ sơ khảo sát (đưa điểm đánh giá rủi ro TV2 từ Mean = 3,92 xuống dưới 2,00) trước năm 2024.
  • Tăng cường giám sát hiện trường và quản lý năng lực thi công của Nhà thầu:

    • Chủ thể thực hiện: Đơn vị tư vấn giám sát, Ban Quản lý dự án huyện, các nhà thầu thi công xây dựng.
    • Hành động cụ thể: Bắt buộc nhà thầu lập biểu đồ tiến độ chi tiết theo tuần; kiểm định 100% chứng chỉ xuất xứ vật liệu và an toàn máy móc trước khi đưa vào công trường; kiên quyết chấm dứt hợp đồng với nhà thầu chậm tiến độ quá 30 ngày mà không có lý do chính đáng.
    • Chỉ số mục tiêu: Đạt 100% công trình hoàn thành đúng tiến độ cam kết trong hợp đồng giai đoạn 2022–2025.
  • Đột phá trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và đồng thuận cộng đồng:

    • Chủ thể thực hiện: Hội đồng Bồi thường giải phóng mặt bằng huyện phối hợp Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn.
    • Hành động cụ thể: Tổ chức đối thoại công khai, áp dụng khung giá bồi thường minh bạch ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án; phát huy vai trò giám sát đầu tư của cộng đồng theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
    • Chỉ số mục tiêu: Hoàn thành 100% công tác bàn giao mặt bằng sạch cho đơn vị thi công trong vòng 30 ngày kể từ khi có quyết định thu hồi đất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng: Cung cấp khung phương pháp luận và dữ liệu thực chứng để nhận diện các điểm nóng rủi ro, từ đó cải tiến quy trình ra quyết định đầu tư, lập kế hoạch phân bổ vốn trung hạn và điều hành dự án hiệu quả.
  • Các doanh nghiệp tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát và nhà thầu xây dựng: Giúp các đơn vị nhận diện rõ các lỗi kỹ thuật thường gặp trong hồ sơ khảo sát, dự toán và an toàn lao động, làm tài liệu tham khảo để chuẩn hóa quy trình thi công và tối ưu hóa hồ sơ dự thầu.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế và Quản lý xây dựng: Kế thừa bộ thang đo 20 biến quan sát đã được kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha đạt chuẩn (0,685–0,925), phục vụ phát triển các mô hình nghiên cứu mở rộng tại các địa phương khác.
  • Cán bộ cơ quan Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước và Phòng Tài chính – Kế hoạch: Tham khảo các tiêu chí nhận diện nguy cơ thất thoát, sai lệch dự toán và chậm tiến độ để xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát định kỳ đối với các nguồn vốn đầu tư công.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân trọng yếu nào dẫn đến tình trạng chậm tiến độ tại các dự án đầu tư công huyện Đức Linh? Nghiên cứu chỉ ra rằng việc phê duyệt chủ trương và dự án chậm trễ là rủi ro lớn nhất với Mean = 4,19 (89,2% đồng thuận), kết hợp với vướng mắc trong khâu bồi thường giải phóng mặt bằng làm nhiều dự án kéo dài từ 6 tháng trở lên.

Bộ thang đo đánh giá rủi ro trong luận văn có đạt chuẩn khoa học không? Thang đo 5 nhóm nhân tố với 20 biến quan sát đạt độ tin cậy rất cao khi kiểm định bằng phần mềm SPSS: hệ số Cronbach's Alpha dao động từ 0,685 đến 0,925 và tất cả tương quan biến - tổng đều lớn hơn 0,424, vượt xa tiêu chuẩn quy định (>0,3).

Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư công tại huyện Đức Linh trong giai đoạn nghiên cứu tập trung vào đâu? Trong giai đoạn 2018–2021, vốn đầu tư công huyện Đức Linh ưu tiên 3 lĩnh vực trọng điểm: Giao thông vận tải đạt 126,23 tỷ đồng (22,12%), Nông nghiệp đạt 102 tỷ đồng (17,93%) và Giáo dục - Đào tạo đạt 98 tỷ đồng (18,23%).

Sai sót trong khâu khảo sát và thiết kế gây ra hệ lụy gì cho dự án? Sai sót khảo sát (Mean = 3,92) và thiết kế (Mean = 3,89) dẫn đến sai lệch khối lượng dự toán, làm tăng tổng mức đầu tư, buộc phải dừng thi công để thẩm định lại, làm phát sinh chi phí và kéo dài thời gian hoàn thành công trình.

Mô hình quản lý dự án nào phát huy hiệu quả tốt nhất đối với công trình quy mô nhỏ dưới 1 tỷ đồng? Mô hình Chủ đầu tư trực tiếp quản lý là lựa chọn tối ưu cho các dự án dưới 1 tỷ đồng có thiết kế mẫu đơn giản, giúp tinh gọn bộ máy, tiết kiệm chi phí quản lý và tận dụng hiệu quả nguồn vốn huy động đóng góp từ cộng đồng nhân dân.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị rủi ro dự án xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo chuẩn mực quốc tế PMI và pháp luật Việt Nam.
  • Khảo sát thực chứng 130 cán bộ chuyên môn tại huyện Đức Linh đã định lượng chính xác 5 nhóm rủi ro với 20 biến quan sát, khẳng định nhóm Chủ đầu tư (Mean = 4,19) và Tư vấn thiết kế (Mean = 3,92) là hai nguồn rủi ro lớn nhất.
  • Đã phân tích chi tiết dữ liệu phân bổ vốn đầu tư công giai đoạn 2016–2021 với quy mô hàng trăm tỷ đồng trên 7 lĩnh vực hạ tầng thiết yếu tại địa bàn huyện Đức Linh.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với chỉ số mục tiêu, chủ thể thực thi và lộ trình triển khai chi tiết cho giai đoạn 2021–2025.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu thực nghiệm và bộ công cụ đo lường tin cậy cao, tạo tiền đề nâng cao hiệu quả giải ngân vốn đầu tư công và phát triển hạ tầng bền vững cho các địa phương trong cả nước.