ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 1. Sự cần thiết nghiên cứu “Khi đầu tư chúng khoán, làm sao để có được lợi nhuận nhưng đồng thời vẫn giảm rủi ro xuống một mức chấp nhận được?”. Có nhiều cách khác nhau chẳng hạn như đầu tư vào các công ty có chỉ số tài chính tốt, báo cáo thường niên dự báo một tương đầy triển vọng hay đơn giản hơn là đầu tư vào những công ty lớn có tên tuổi trên thị trường, hoặc đầu tư vào những ngành những lĩnh vực mà mình nắm rõ…Nhưng điều đó cũng không có gì đảm bảo là vào một ngày đẹp trời nào đó bạn thức dậy, đọc báo và thấy rằng công ty mà mình mua cổ phiếu đã bị phá sản, còn bản báo cáo tài chính với các chỉ số đạt chất lượng AAA của họ chỉ là một mánh khóe kế toán đơn giản nào đó. “Làm sao để tránh được điều này?”.
Người xưa đã có câu “Đừng bao giờ đặt tất cả trứng đã mua vào cùng một rổ”- Đa dạng hóa danh mục đầu tư chính là cách tự bảo hiểm tốt nhất. Có thể buổi sáng đó, bạn vẫn buồn vì công ty của mình đã bị phá sản, xong ít ra các công ty khác trong danh mục đầu tư của bạn vẫn còn đó. Vậy đa dạng hóa danh mục đầu tư là như thế nào? Đơn giản chỉ là gia tăng số loại cổ phiếu nắm giữ? Nếu vậy, bao nhiêu là đủ ? Có người nói trong danh mục chỉ cần 10 đến 20 loại cổ phiếu khác nhau là được, có người lại nói là từ 30 trở lên, lại có người bảo rằng càng nhiều càng tốt. Điều này thực tế đúng là dựa trên quan điểm của từng cá nhân, nhưng có một điều mà chắc hẳn mọi người ai cũng phải đồng ý.
Đó là việc đa dạng hóa phải cân bằng giữa lợi ích từ việc giảm thiểu rủi ro mà danh mục đầu tư mang lại và chi phí tăng thêm do hệ quả của việc đa dạng hóa. Nếu không đơn thuần bạn chỉ cần đơn giản là mua tất cả các loại cổ phiếu đang niêm yết trên 2 sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh là xong! GVHD: TS. TRƯƠNG ĐÔNG LỘC Trang 1 SVTH: PHẠM ĐỨC AN Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam Thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu năm đến nay (15/04/2008), do bị tác động từ tình hình kinh tế thế giới lên diễn biến rất phức tạp, chỉ số Vn-Index và Hastc-Index ở 2 sàn Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã mất hơn 50% số điểm chỉ trong vòng chưa đầy năm tháng. Nhắc đến điều này để thấy rằng việc đa dạng hóa là cần thiết, không phải do tình hình thị trường đang có nhiều biến diễn phức tạp mà ngay cả khi thị trường tăng trưởng liên tục và ổn định thì đa dạng hóa cũng không bao giờ là thừa.
Bởi vì bạn không thể đoán định được những điều bất ngờ xảy ra đối với công ty mà mình mua cổ phiếu. Vậy ở thị trường chứng khoán Việt Nam, việc đa dạng hóa mang lại hiệu quả như thế nào? Cần bao nhiêu loại chứng khoán trong một danh mục thì đạt được mục đích của việc đa dạng hóa?. Đa dạng hóa có loại bỏ được hoàn toàn rủi ro?.Để trả lời cho những câu hỏi thú vị này, nên tôi đã quyết định thực hiện đề tài “Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam” làm Luận văn của mình.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn. Đa dạng hóa danh mục đầu tư là một đề tài thú vị và gây tranh cãi từ lâu trong cộng đồng các nhà kinh tế học và những người đầu tư chúng khoán, những câu hỏi thường gặp nhất là: - Trong một danh mục thì bao nhiêu loại chứng khoán là đủ? 10, 15, 20 hay 100 thì đủ để giảm thiểu rủi ro xuống một mức chấp nhận được.
- Chiến lược “Mua và nắm giữ” – Buy and hold (BH) hay Phân phối lại danh mục – Reallocation (REA) ở mỗi thời điểm bắt đầu của chu kỳ đầu tư, thì chiến lược nào tốt hơn. - Đa dạng hóa giữa các ngành thì có tốt hơn là đa dạng hóa với các loại cổ phiếu trong cùng một ngành. - Các tiêu chí nào là thích hợp cho việc lựa chọn một cổ phiếu vào trong danh mục đầu tư. - Tác dụng đa dạng hóa của các cổ phiếu được xếp hạng cao (AAA) có tốt hơn các cổ phiếu ở thứ hạng khác.
- Có phải trong một danh mục, càng nhiều cổ phiếu thì tác dụng đa dạng hóa càng cao. - Rủi ro suy giảm tương ứng với cổ phiếu được thêm vào danh mục. TRƯƠNG ĐÔNG LỘC Trang 2 SVTH: PHẠM ĐỨC AN Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam … Lý thuyết về việc đa dạng hóa có thể nói đã ra đời từ rất lâu thậm chí là trước cả thị trường chứng khoán, nhưng mọi việc chỉ dừng lại ở việc đa dạng hóa giản đơn, chẳng hạn như họ cố gắng phân tán rủi ro bằng cách đầu tư vào các ngành nghề, các lĩnh vực khác nhau dựa vào sự khác biệt về bản chất giữa các ngành chẳng hạn như: Ngành khai khoáng được xem là có nhiều rủi ro trong khi đó các ngành phục vụ các mục đích công cộng có sự bảo hộ của nhà nước như nông nghiệp, sản xuất nhu yếu phẩm hay bưu chính viễn thông được cho là ít rủi ro hơn. Lý thuyết Đa dạng hóa hiện đại chỉ thực sự bắt đầu khi Harry Markowitz phát triển lý thuyết về việc xây dựng “danh mục đầu tư khả dĩ tối ưu”, dựa trên quan hệ về lợi nhuận - rủi ro.
Trong đó ông giả thuyết hành vi của nhà đầu tư chỉ dựa vào lơi nhuận mong đợi và phương sai của lợi nhuận "expected returns- variance of returns" [3, tr. Ông đã cố gắng lượng hóa rủi ro, dựa trên độ lệch chuẩn lợi nhuận của danh mục đầu tư. Nhưng các nghiên cứu chỉ thật sự phát triển khi William F. Sharpe phát triển một mô hình đo lường lợi nhuận đơn giản hơn, còn được gọi là Diagonal Modell thường được biết đến với tên gọi “mô hình chỉ số đơn” [4, tr 281].
Ri = Ai + Bi I + Ci (1) Với Ri là giá trị thị trường của chứng khoán i Ai là giá trị cổ phiếu I khi chỉ số thị trường (I) bằng 0. Bi là hệ số tương quan giữa thị trường và chứng khoán i, được xem là đại diện cho phần rủi ro hệ thống tức rủi ro không thể đa dạng hóa. I là chỉ số thị trường. Ci là sai số, được xem là đại diện cho phần rủi ro có thể đa dạng hóa.
Hai nghiên cứu trên đã giúp phát triển các lý thuyết cũng như thực nghiệm sau đây, mà Luận văn này dựa vào đó để nghiên cứu, đó là: - Nghiên cứu của John L. Evans và Stephen H. Archer với tựa đề là “Diversification And The Reduction Of Dispersion: An Empirical Analysis” GVHD: TS. TRƯƠNG ĐÔNG LỘC Trang 3 SVTH: PHẠM ĐỨC AN Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam trong đó hai ông nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ đa dạng hóa và độ lệch chuẩn của lợi nhuận; đại diện cho rủi ro của danh mục trong đầu tư chứng khoán dựa trên mẫu 470 chứng khoán khác nhau của chỉ số Standard and Poor suốt từ tháng 1 năm 1958 đến tháng 7 năm 1967, họ đã xây dựng một hàm hồi quy để dự đoán mối quan hệ giữa số chứng khoán trong một danh mục và độ lệch chuẩn (rủi ro) của danh mục.
Từ đây hai ông rút ra kết luận là với một danh mục sấp xỉ khoảng 10 cổ phiếu là đạt được lợi ích biên của việc đa dạng hóa [5, tr 767]. - Nghiên cứu của Henry A. Latané và William E. Young về những tiêu chuẩn của việc xây dựng một danh mục đầu tư “Test Of Portfolio Of Building Rules” dựa trên mẫu 224 cổ phiếu trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1953 đến tháng 12 năm 1960 chia thành 7 nhóm.
Hai ông đã tiến hành so sánh nhiều tiêu chuẩn khác nhau để lựa chọn chứng khoán trong danh mục và kích cỡ của danh mục đầu tư. Họ đã rút ra một số kết luận, trong đó có kết luận rằng 85 – 95% lợi ích khả dĩ từ việc đa dạng hóa có thể được với một danh mục từ 8 đến 16 loại cổ phiếu khác nhau [6, tr 607]. - Nghiên cứu của Lawrence Fisher và James H. Lorie về sự khác nhau trong việc đa dạng hóa giữa các ngành.
Nghiên cứu này “Some Studies Of Variability Of Returns On Investments In Common Stocks” dựa trên một khối lượng khổng lồ các danh mục khả dĩ niêm yết trên sàn chứng khoán New York suốt 40 năm (1926-1965). Hai ông cũng đưa ra kết luận tương tự như Henry A. Latané và William E. Young là với một danh mục có từ 8 đến 16 chứng khoán thì lợi ích khả dĩ từ việc đa dạng có thể đạt được là từ 80-90%.[7, tr117] - Nghiên cứu của W.
Lau “The Effect Of diversification On Risk” chỉ ra sự khác biệt của các chỉ tiêu khác nhau, khi đa dạng hóa giữa các nhóm cổ phiếu cùng chất lượng, dựa trên các đánh giá về chất lượng của 200 cổ phiếu của chỉ số S&P 500 từ tháng 6 năm 1960 đến tháng 6 năm 1970. Hai ông đi đến kết luận là với một danh mục có từ 15 đến 20 loại cổ phiếu khác nhau thì có thể làm giảm độ lệch chuẩn của danh mục từ 42-44% so với danh mục chỉ có một loại cổ phiếu. [8, tr49] Trên đây là 4 nghiên cứu chính làm cơ sở để tôi dựa vào để thực hiện Luận văn của mình. TRƯƠNG ĐÔNG LỘC Trang 4 SVTH: PHẠM ĐỨC AN Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam 1.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 1.1 Mục tiêu chính. Xem xét rủi ro của danh mục thay đổi ra sao với mỗi loại cổ phiếu được cộng thêm vào trong danh mục.2 Mục tiêu cụ thể. - Ước lượng số loại cổ phiếu cần thiết cho một danh mục để có thể đạt được từ 80% đến 90% lợi ích của việc đa dạng hóa. - Xem xét việc đa dạng hóa ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận.
- Phân chia quãng thời gian nghiên cứu thành các thời kì để đánh giá tác dụng đa dạng hóa giữa các khoảng thời gian khác nhau. - Xây dựng hàm hồi quy để cụ thể hóa mối quan hệ giữa rủi ro và số lượng chứng khoán trong danh mục. CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU. Giả thuyết cần kiểm định.