CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. Quản lý đầu tư Về mặt khái niệm, đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các hiệu quả nhất định. Trên thực tế, đối với các doanh nghiệp, công tác đầu tư chủ yếu được thực hiện qua các dự án đầu tư. MobiFone cũng không là ngoại lệ, toàn bộ công tác đầu tư của MobiFone đều được cụ thể hóa và thực hiện qua các dự án đầu tư, công tác quản lý đầu tư cũng chính là công tác quản lý các dự án của MobiFone.
Vì vậy, trong phạm vi của đề tài này, luận văn sẽ đề cập và nghiên cứu tới các vấn đề về dự án đầu tư, quy trình quản lý dự án đầu tư phục vụ cho công tác quản lý dự án đầu tư của Tổng công ty Viễn thông MobiFone. Khái niệm Có rất nhiều cách định nghĩa về dự án: Theo ISO 9000:2000, Dự án là một quá trình đơn giản nhất, gồm tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực. Theo Trịnh Quốc Thắng (2006) thì dự án là sự chi phí tiền và thời gian để thực hiện một kế hoạch nhằm mục đích cho ra một sản phẩm duy nhất (vật chất, tinh thần, dịch vụ) Hình 1.1: Chu kỳ của dự án đầu tư Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo Luan van 7 một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Như vậy, theo định nghĩa này, dự án là có tính cụ thể và mục tiêu xác định chứkhông chỉ là một ý định phác thảo; dự án là tạo nên một thực thể mới chứ không phải là một nghiên cứu trừu tượng.
Theo Luật Đầu tư 2014, Khoản 2 Điều 3 thì dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hóa nhằm đạt các mục tiêu đã định, trong một thời gian nhất định, bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể, bằng việc sử dụng các nguồn lực xác định. Đặc điểm các dự án đầu tư Từ những định nghĩa khác nhau có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của dự án đầu tư như sau: - Dự án có mục đích, kết quả xác định. Mỗi dự án bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện để đạt được kết quả cụ thể.
Tập hợp các kết quả cụ thể đó tạo nên kết quả chung của dự án. Dự án cũng là một hệ thống phức tạp nên cần được chia thành nhiều đơn vị khác nhau để quản lý và thực hiện nhưng phải thống nhất với nhau đảm bảo các mục tiêu chung cơ bản về chất lượng, chi phí, thời gian. - Dự án có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn. Nghĩa là dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc.
Nhóm quản trị sẽ giải tán khi dự án kết thúc. - Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Bất kỳ dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên liên quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, cơ quản quản lý nhà nước. Tuy nhiên, thành phần tham gia các dự án khác nhau là khác nhau, tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư.
Luôn có sự liên quan và phối hợp giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án để thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận khác nhau là khác nhau. Vì Luan van 8 mục tiêu dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì mối quan hệ thường xuyên với các bộ phận quản lý khác. - Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ). Sản phẩm và dịch vụ từ dự án đem lại là duy nhất.
Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án có tính khác biệt cao chứ không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt. - Môi trường hoạt động phức tạp. Nguồn lực của một tổ chức là có giới hạn. Do đó các dự án là phải chia sẻ cùng một nguồn lực đó.
Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các bộ phận chức năng khác về nhân lực, tiền vốn, thiết bị. Một số trường hợp, các thành viên ban quản lý dự án lại có hai thủ trưởng trong cùng một thời gian nên sẽ gặp khó khăn tronv việc ra quyết định khi hai lệnh mâu thuẫn nhau. Vì vậy, môi trường quản lý dự án luôn tồn tại nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động. - Tính bất định và rủi ro cao.
Để thực hiện hầu hết các dự án cần phải có nguồn vốn, vật tư và lao động duy trì nhất định trong một khoảng thời gian nào đó. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành có thể kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao. Yêu cầu đối với dự án đầu tư Để đảm bảo tính khả thi, một dự án đầu tư phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau: - Tính pháp lý: tất cả các đề xuất trong dự án phải tuân thủ luật pháp hiện hành và các văn bản pháp quy dưới luật. Các yếu tố sau đây trong dự án phải đảm bảo tính pháp lý: tư cách pháp nhân của các bên, khả năng tài chính, các thông tin khác liên quan đến các các bên, các hợp đồng liên quan, định giá tài sản góp vốn, đơn giá áp dụng, kỹ thuật - công nghệ, môi trường làm việc, lao động, chi phí tiền lương,.
- Tính khoa học: yêu cầu người lập dự án phải có một quá trình nghiên cứu chi tiết, kỹ càng và tính toán cẩn thận, chính xác các nội dung của dự án, đặc biệt là các yếu tố về tài chính, thị trường, kỹ thuật - công nghệ. Trong đó, dữ liệu phải có đủ căn Luan van 9 cứ, nguồn cung cấp phải có giá trị pháp lý, các phương pháp phân tích, đánh giá phải dựa trên cơ sở khoa học rõ ràng. - Tính hợp lý: dự án đầu tư phải phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của đất nước, ngành, vùng kinh tế, các địa phương. Các phương án lựa chọn phải phù hợp với truyền thống, phong tục tập quán của cư dân và phù hợp với các điều kiện cụ thể của dự án.
Nội dung, hình thức trình bày của dự án phải phù hợp với các hướng dẫn và qui định của các cơ quan chức năng về đầu tư, đối với dự án đầu tư quốc tế còn phải tuân theo những hiệp ước chung của quốc tế mà các bên liên quan có tham gia. - Tính thực tiễn: để đảm bảo tính thực tiễn, các nội dung của dự án phải được xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện thực tế và hoàn cảnh cụ thể liên tới hoạt động đầu tư của dự án. - Tính hiệu quả: trong dự án phải chứng minh được hiệu quả của dự án. Tránh phóng đại hiệu quả của dự án.
Ngoài ra, cần đánh giá mức độ rủi ro của dự án. Phân loại dự án đầu tư - Phân loại theo nguồn vốn: + Dự án đầu tư bằng vốn đến từ trong nước (vốn tín dụng, vốn cấp phát, các hình thức huy động khác). + Dự án đầu tư bằng nguồn vốn đến từ nước ngoài (nguồn viện trợ nước ngoài ODA và nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI). - Theo quy mô và tính chất: dự án trọng điểm quốc gia do Quốc hội xem xét và quyết định về chủ trương đầu tư.
Các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy mô và tính chất. Trong lĩnh vực đầu tư thiết bị viễn thông: + Dự án đầu tư nhóm A: có mức vốn đầu tư lớn hơn 1000 tỷ VNĐ. + Dự án đầu tư nhóm B: có mức vốn đầu tư từ 80 tỷ đến 1000 tỷ VNĐ. + Dự án đầu tư nhóm C: có mức vốn đầu tư nhỏ hơn 80 tỷ VNĐ.
Quản lý dự án đầu tư Quản lý dự án đầu tư hay còn gọi là quản trị dự án đầu tư có các thông tin cơ bản được trình bày trong nội dung này. Khái niệm Có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản trị (quản lý) dự án đầu tư. Quản trị dự án là việc thỏa mãu các yêu cầu dự án bằng cách áp dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật và công cụ vào các hoạt động dự án. Quản trị dự án là quá trình phối hợp tất cả các yếu tố cần được thực hiện (sử dụng một số kỹ thuật quản lý dự án đặc biệt) để thúc đẩy các hoạt động của dự án xuyên suốt chu kỳ hoạt động của nó để nhằm đạt được mục tiêu đã để ra.
Quản lý dự án là tiến trình quản lý và định hướng những hoạt động và nguồn lực (thời gian, ngân sách, nhân tài vật lực) để hoàn thành một dự án theo một trình tự có hiệu quả, đáp ứng những mục tiêu dự án và thỏa mãn nhu cầu của những người có liên quan đến dự án. Tóm lại, quản lý dự án là quá trình thực hiện các hoạt động hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm tra của các chủ thể quản lý đến quá trình hình thành, triển khai thực hiện và kết thúc dự án nhằm đạt được các mục tiêu của dự án trong một môi trường hoạt động nhất định với không gian và thời gian xác định. Như vậy quản trị dự án gồm bốn giai đoạn chủ yếu: lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra. - Lập kế hoạch Lập kế hoạch có nhiệm vụ là xác định được: + Các mục tiêu của dự án.
+ Tất cả các công việc cần thực hiện, thời gian hoàn thành từng công việc và toàn bộ dự án. + Các nguồn lực cần thiết nhân lực, vật lực, tài chính để hoàn thành các công việc của dự án.