Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Vai trò các khu công nghiệp - khu chế xuất trong sự phát triển của TP. Hồ Chí Minh" do sinh viên Đỗ Xuân Toàn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Đăng Thịnh tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được triển khai trong bối cảnh Việt Nam thực hiện đường lối Đổi mới từ năm 1986, kinh tế giai đoạn 1991–2000 đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7,5%/năm và sản xuất công nghiệp tăng bình quân 13,6%/năm. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001–2010 nhằm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong tiến trình này, TP. Hồ Chí Minh giữ vị thế trung tâm kinh tế, công nghiệp và thu hút đầu tư lớn nhất cả nước, được giao nhiệm vụ đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) nhằm trở thành trung tâm công nghiệp vào năm 2015. Mô hình khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất (KCX) được thành phố thí điểm và nhân rộng từ năm 1991 nhằm huy động vốn, đổi mới công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng hoạt động và làm rõ vai trò, tác động của hệ thống KCN, KCX đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của TP. Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp đến năm 2010. Tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu một số vấn đề lý luận và chính sách trong quá trình phát triển các KCN, KCX.
  2. Tìm hiểu quá trình hoạt động thực tế của các KCN, KCX trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
  3. Đánh giá lại quá trình phát triển, từ đó nêu bật vai trò cùng các tác động kinh tế - xã hội của các KCN, KCX đối với thành phố.
  4. Đề xuất một số định hướng và giải pháp hoạt động nhằm phát triển các KCN, KCX đến năm 2010.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình hoạt động cùng vai trò, tác động kinh tế - xã hội của các KCN, KCX trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa lý hành chính của TP. Hồ Chí Minh trong khung thời gian từ khi thành lập khu chế xuất đầu tiên (năm 1991) đến giai đoạn 2004, đồng thời xác định tầm nhìn định hướng phát triển đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, đề tài dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua văn kiện Đại hội VI, Hội nghị Trung ương 7 khóa VII và Đại hội IX. Khóa luận tiếp thu các lý thuyết tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp:

  • Lý thuyết "Phát triển tổng hợp sản xuất lãnh thổ" của nhà khoa học N. Kolosovskiy (Liên Xô), ứng dụng trong phân bố lực lượng sản xuất và quy hoạch công nghiệp.
  • Lý thuyết vị trí phân bố công nghiệp của Alfred Weber, giải thích sự tập trung không gian công nghiệp dựa trên nguyên tắc cực đại hóa lợi nhuận và cực tiểu hóa chi phí (tối ưu chi phí vận chuyển, chi phí nhân công và tận dụng phế liệu/nguyên liệu tập trung).
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước: Nghị định số 322/HĐBT ngày 18/10/1991 ban hành Quy chế KCX; Nghị định số 192/CP ngày 28/12/1994 ban hành Quy chế KCN; Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 ban hành Quy chế KCN, KCX, Khu công nghệ cao (KCNC); Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 (sửa đổi các năm 1990, 1992, 1993); Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Đất đai, Luật Thương mại và Bộ luật Lao động.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, văn bản chính sách.
  • Phương pháp thống kê, thu thập và xử lý chuỗi số liệu kinh tế.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu số liệu theo thời gian và cơ cấu ngành/quốc gia.
  • Phương pháp logic kết hợp nghiên cứu tài liệu thực tiễn.

Nguồn dữ liệu của khóa luận được thu thập và tổng hợp từ Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HEPZA), Niên giám Thống kê TP. Hồ Chí Minh, Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của Thành ủy và UBND TP. Hồ Chí Minh, tài liệu lưu trữ tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh và Thư viện Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở hình thành các khu công nghiệp - khu chế xuất

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, quan điểm chỉ đạo của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến KCN và KCX. Tác giả phân tích các khái niệm học thuật và pháp lý:

  • Khu công nghiệp (KCN): Phân tích định nghĩa theo Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (nhóm trung tâm công nghiệp phân bố gần nhau, liên kết bởi chuyên môn hóa và mạng lưới vận tải) và định nghĩa pháp lý tại Nghị định 36/CP (khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ hỗ trợ sản xuất, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống).
  • Khu chế xuất (KCX): Khái niệm theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO), Hiệp hội các Khu chế xuất thế giới (WEPZA) và Điều 2 Quy chế ban hành kèm Nghị định 36/CP (KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện dịch vụ phục vụ xuất khẩu).
  • Khu công nghệ cao (KCNC), Vùng kinh tế và Vùng kinh tế trọng điểm: Khái niệm về liên kết không gian kinh tế giữa trung ương và địa phương, ranh giới cứng (hành chính) và ranh giới mềm (đô thị hóa và phạm vi ảnh hưởng).
  • Chính sách phát triển: Tác giả làm rõ chính sách kinh tế vùng (vùng đô thị, đồng bằng, miền núi, vùng kinh tế trọng điểm); chính sách ngoại thương quốc tế và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (các hình thức FDI: liên doanh, 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC, hợp đồng BOT); chính sách tài chính - ngoại hối theo Chương V Nghị định 36/CP (thuế suất thuế thu nhập/lợi tức 10% đối với KCNC được miễn 8 năm; 10% đối với KCX sản xuất được miễn 4 năm; 15% đối với KCX dịch vụ được miễn 2 năm; 10%–15%–20% đối với doanh nghiệp KCN tùy theo tỷ lệ xuất khẩu; thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài 5%; ưu đãi thuế quan CEPT/ASEAN khi hàm lượng nội khối đạt từ 40% trở lên).

Chương 2: Thực trạng và vai trò của các KCN - KCX trong sự phát triển của TP. Hồ Chí Minh

Chương 2 trình bày chi tiết bức tranh hoạt động thực tiễn và lượng hóa vai trò của các KCN, KCX đối với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của thành phố.

1. Thực trạng hoạt động của các khu chế xuất

  • KCX Tân Thuận: Thành lập theo Giấy phép đầu tư số 245/GPĐT ngày 24/9/1991 và Quyết định số 394/CT ngày 28/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, quy hoạch 300 ha (210 ha đất xây dựng công nghiệp) tại bán đảo Tân Thuận, Quận 7. Công ty Liên doanh Tân Thuận đầu tư hạ tầng 89 triệu USD, kết nối đường cao tốc dài 17,8 km rộng 60 m (~50 triệu USD), hệ thống cấp nước 12.000 m³/ngày (Cát Lái) và 35.000 m³/ngày (Thủ Đức), trạm điện diesel Hiệp Phước 20 MW, trạm khám đa khoa (1999) và trạm xử lý nước thải. Đến 30/6/2000, KCX thu hút 151 nhà đầu tư với tổng vốn 622 triệu USD; đến tháng 6/2002 đạt 631 triệu USD vốn đầu tư. Tháng 10/2004, KCX thu hút dự án thiết kế vi mạch bán dẫn của Renesas Corporation (Hitachi và Mitsubishi). Về xuất nhập khẩu, kim ngạch năm 1998 đạt 612,667 triệu USD (xuất siêu 39,981 triệu USD), năm 1999 đạt 747,702 triệu USD (xuất siêu 69 triệu USD), xuất khẩu sang 40 quốc gia và chiếm 16% kim ngạch xuất khẩu FDI toàn quốc năm 1999. Đến tháng 12/2003, KCX giải quyết việc làm cho 34.000 lao động trực tiếp, được WEPZA xếp thứ 3/43 khu chế xuất tiêu biểu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Cơ cấu vốn đầu tư tại KCX Tân Thuận theo đối tác (đến 31/12/1997) Số GPĐT Số vốn đăng ký (triệu USD) Tỷ trọng vốn (%)
Nhật Bản 46 215,820 45,61
Đài Loan 49 179,350 37,90
Hồng Kông 12 45,132 9,54
Hàn Quốc 5 18,200 3,85
Hoa Kỳ 1 14,000 2,96
  • KCX Linh Trung: Thành lập theo Giấy phép điều chỉnh số 412/GPĐC ngày 22/12/1994, liên doanh giữa Công ty KCX Sài Gòn và China United Electric Import and Export Corp (Trung Quốc), diện tích 60 ha tại phường Linh Trung, quận Thủ Đức (khởi công đầu năm 1995), vốn ban đầu 26,5 triệu USD (vốn pháp định 6 triệu USD). Hạ tầng gồm trạm điện 110 kV, nhà máy điện 30 MW, 3 giếng ngầm, 1.000 đường dây điện thoại. Đến 30/8/2002, KCX cấp phép 50 dự án, cho thuê 47,635 ha đất, tổng vốn đầu tư 335 triệu USD; mở rộng KCX Linh Trung 2 quy mô 62 ha. Năm 1999, xuất khẩu đạt 144,341 triệu USD, nhập khẩu 129,705 triệu USD, xuất siêu 14,636 triệu USD; lũy kế kim ngạch XNK đến tháng 8/2002 đạt 946,380 triệu USD.

2. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp

Quy hoạch KCN TP. Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 10/12/1995. Hệ thống hạ tầng giao thông được đầu tư hoàn chỉnh: KCN Tân Bình (13,2 km đường nội bộ, lộ giới 16–32 m), KCN Tân Thới Hiệp (10 km đường bê tông nhựa, chịu tải trọng xe container 40 tấn), KCN Tân Tạo. Ngày 24/4/2000, triển khai dự án lưới điện trung thế vào các KCN Tây Bắc Củ Chi, Lê Minh Xuân, Tân Thới Hiệp, Bình Chiểu. Đến tháng 6/2002, các KCN thành phố thu hút 470 GPĐT (153 dự án nước ngoài với 452,482 triệu USD; 317 dự án trong nước với 6.472,44 tỷ đồng). Ba KCN hoàn thành lấp đầy 100% diện tích gồm Bình Chiểu, Cát Lái IV và Tân Bình; các KCN còn lại đạt tỷ lệ lấp đầy trên 50%.

Số liệu thu hút đầu tư tại một số KCN TP. Hồ Chí Minh (đến 31/12/1999) Diện tích đất cho thuê lũy kế (ha) Vốn đăng ký nước ngoài (triệu USD) Vốn đăng ký trong nước (tỷ VNĐ)
KCN Bình Chiểu 18,34 12,85 118,50
KCN Tân Tạo 67,88 11,28 496,25
KCN Lê Minh Xuân 54,45 10,21 387,40
KCN Tân Bình 44,52 8,50 258,10
KCN Tân Thới Hiệp 18,12 14,50 95,60

3. Vai trò của KCN, KCX đối với sự phát triển của thành phố

  • Tăng trưởng kinh tế và thu hút vốn: TP. Hồ Chí Minh thu hút khoảng 40% tổng vốn FDI cả nước. Đến tháng 6/2004, toàn thành phố thu hút 935 dự án KCN-KCX (426 FDI) với tổng vốn 1,5 tỷ USD và hơn 1.600 tỷ đồng vốn trong nước. Riêng năm 2004, thu hút đầu tư KCN-KCX đạt 473 triệu USD (trong nước gần 337 triệu USD, FDI đạt 136 triệu USD).
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Giai đoạn 1991–1995 GDP thành phố tăng bình quân 12,6%/năm, giai đoạn 1996–2000 đạt 10,2%/năm, năm 2004 đạt 11,5%. Cơ cấu kinh tế năm 2004 chuyển dịch theo hướng: công nghiệp - xây dựng chiếm 51%, dịch vụ 47,4%, nông nghiệp 1,6%. Hệ thống KCN-KCX đã chuyển đổi hàng nghìn hecta đất nông nghiệp năng suất thấp, bạc màu tại Bình Chánh, Củ Chi, Nhà Bè, Thủ Đức thành mặt bằng sản xuất công nghiệp với gần 600 nhà máy.
  • Đóng góp ngân sách và xuất khẩu: Từ năm 1999 đến giữa năm 2004, các KCN-KCX nộp ngân sách 1.002,811 tỷ đồng (riêng 6 tháng đầu năm 2004 nộp 302,671 tỷ đồng). Kim ngạch xuất khẩu của KCN-KCX đóng góp bình quân 10% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thành phố.
  • Giải quyết việc làm và hình thành lực lượng lao động công nghiệp: TP. Hồ Chí Minh tạo việc làm trực tiếp cho 11 vạn lao động KCN-KCX trong tổng số 387.000 lao động KCN-KCX của vùng Đông Nam Bộ (chiếm 75,72% cả nước). KCX Tân Thuận giải quyết việc làm cho 34.000 lao động trực tiếp và thúc đẩy dịch vụ thương mại giải quyết việc làm cho khoảng 20.000 lao động tại Quận 7.
  • Thúc đẩy công nghệ cao: Thành phố đưa Công viên Phần mềm Quang Trung (Quận 12) vào hoạt động ngày 16/3/2001, thu hút 65 doanh nghiệp, tăng vốn từ 2,4 triệu USD lên 22,97 triệu USD giai đoạn 2001–2004; đồng thời triển khai xây dựng Khu công nghệ cao TP.HCM tại Quận 9.

Chương 3: Một số định hướng và giải pháp để phát triển các KCN - KCX TP. HCM đến năm 2010

Chương 3 trình bày các định hướng và nhóm giải pháp phát triển KCN, KCX theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh lần thứ VII:

  • Định hướng phát triển: Chuyển dịch mô hình KCN từ các ngành thâm dụng lao động phổ thông (may mặc, giày da) sang các ngành công nghiệp mũi nhọn có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao (điện tử, viễn thông, cơ khí chính xác, công nghệ phần mềm); phân bố lại không gian công nghiệp gắn liền với quy hoạch đô thị hóa ngoại thành và bảo vệ môi trường.
  • Nhóm giải pháp thực hiện: Hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật (giao thông vành đai, nguồn cấp nước, trạm điện, hệ thống xử lý chất thải tập trung); đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa - một dấu" tại Ban Quản lý HEPZA; hoàn thiện cơ chế cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho doanh nghiệp thuê; nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho công nhân kỹ thuật; phát triển mạng lưới dịch vụ nhà ở, trạm y tế và tiện ích xã hội cho công nhân KCN.
  • Bài học kinh nghiệm và kiến nghị: Bài học về công tác giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch, thu hút vốn phát triển hạ tầng và ban hành khung pháp lý đồng bộ, minh bạch cho nhà đầu tư.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng kết các kết quả thực tiễn và xác lập các đóng góp khoa học chính:

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình hình thành, phát triển của 2 khu chế xuất đầu tiên (Tân Thuận, Linh Trung) cùng mạng lưới các KCN tập trung trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh từ năm 1991 đến năm 2004.
  • Làm rõ vai trò trụ cột của các KCN, KCX đối với sự phát triển kinh tế TP. Hồ Chí Minh thông qua các chỉ số cụ thể: đóng góp bình quân 10% kim ngạch xuất khẩu toàn thành phố; đóng góp 1.002,811 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước (1999–6/2004); thu hút 473 triệu USD vốn đầu tư trong năm 2004; tạo việc làm trực tiếp cho 11 vạn lao động kỹ thuật và công nghiệp.
  • Khẳng định vai trò của KCN, KCX trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố theo hướng công nghiệp hóa (công nghiệp - xây dựng đạt 51% năm 2004) và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả thấp sang phát triển hạ tầng công nghiệp, đô thị mới.
  • Khóa luận kế thừa, phát triển và cập nhật dữ liệu từ các đề tài quy hoạch kinh tế - xã hội TP.HCM đến năm 2010 và các công trình nghiên cứu mô hình KCN tập trung giai đoạn 1994–2010.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện bởi sinh viên bậc đại học với phạm vi không gian bao quát trên toàn địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn hơn 10 năm phát triển. Tác giả tự nhận định nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế do điều kiện thời gian và năng lực nghiên cứu cá nhân.

Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản đề xuất:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong các KCN, KCX theo hướng phát triển công nghệ cao (vi mạch, bán dẫn, phần mềm) giai đoạn sau năm 2005 đến năm 2010 và 2015.
  • Nghiên cứu sâu hơn các chính sách giải quyết vấn đề xã hội của công nhân KCN (nhà ở, y tế, nâng cao kỷ luật và tay nghề lao động) và giải pháp xử lý nước thải, bảo vệ môi trường sinh thái công nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên đề cho sinh viên, giảng viên ngành Giáo dục Chính trị, Kinh tế chính trị, Địa lý kinh tế và Quản lý kinh tế khi nghiên cứu về quá trình CNH-HĐH tại TP. Hồ Chí Minh. Nội dung các bảng biểu thống kê về cơ cấu đối tác đầu tư, tiến độ cho thuê đất và khung chính sách ưu đãi thuế theo Nghị định 36/CP có giá trị tham khảo tốt cho các đề tài nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 1991–2004.

Câu hỏi thường gặp

1. Khu chế xuất đầu tiên của TP. Hồ Chí Minh và cả nước là khu nào, được thành lập khi nào?
KCX Tân Thuận là khu chế xuất đầu tiên, được cấp Giấy phép đầu tư số 245/GPĐT ngày 24/9/1991 và phê duyệt thành lập theo Quyết định số 394/CT ngày 28/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. KCX tọa lạc tại bán đảo Tân Thuận, Quận 7 với quy mô quy hoạch 300 ha (210 ha đất xây dựng công nghiệp).

2. Quốc gia và vùng lãnh thổ nào chiếm tỷ trọng vốn đầu tư lớn nhất tại KCX Tân Thuận tính đến cuối năm 1997?
Tính đến ngày 31/12/1997, Nhật Bản dẫn đầu với 46 giấy phép đầu tư, tổng vốn 215,820 triệu USD, chiếm 45,61% tổng vốn đăng ký; đứng thứ hai là Đài Loan với 49 giấy phép đầu tư, tổng vốn 179,350 triệu USD, chiếm 37,90%.

3. Khung ưu đãi thuế lợi tức đối với doanh nghiệp trong KCN, KCX theo Nghị định 36/CP được quy định như thế nào?
Theo Chương V Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997: Doanh nghiệp chế xuất sản xuất chịu thuế suất 10% lợi nhuận và miễn 4 năm từ khi có lãi; doanh nghiệp chế xuất dịch vụ chịu thuế suất 15% và miễn 2 năm; doanh nghiệp KCN có tỷ lệ xuất khẩu trên 80% chịu thuế 10%, miễn 2 năm và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo; doanh nghiệp KCNC chịu thuế 10% và miễn 8 năm. Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là 5%.

4. Những KCN nào tại TP. Hồ Chí Minh đã lấp đầy 100% diện tích đất cho thuê tính đến năm 2000?
Ba khu công nghiệp đã hoàn thành lấp đầy diện tích đất và dừng chỉ tiêu thu hút đầu tư mới từ năm 2000 gồm KCN Bình Chiểu (18,34 ha), KCN Cát Lái IV và KCN Tân Bình (44,52 ha).

5. Dự án công nghệ cao tiêu biểu nào được thu hút vào KCX Tân Thuận vào tháng 10/2004?
Tháng 10/2004, KCX Tân Thuận đã thu hút dự án của tập đoàn Renesas Corporation (liên doanh giữa Hitachi và Mitsubishi của Nhật Bản), thành lập công ty thiết kế vi mạch và bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Xuân Toàn đã hệ thống hóa và phân tích sâu sắc thực tiễn 14 năm xây dựng, phát triển các KCN, KCX tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 1991–2004. Các số liệu và luận cứ trong công trình chứng minh hệ thống KCN, KCX đóng vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động. Các giải pháp và định hướng nêu ra trong khóa luận bám sát mục tiêu phát triển công nghiệp của thành phố đến năm 2010, tạo cơ sở dữ liệu học thuật hữu ích cho nghiên cứu kinh tế phát triển địa phương.