Chương 1: Cơ sở hình thành các khu công nghiệp -khu chế xuất. Chương 2: Thực trạng và vai trò của các KCN, KCX trong sự phát triển của TP.Hồ Chí Minh. Chương 3: Một số định hướng và giải pháp để phát triển các KCN, KCX Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010. SVTH: ĐỖ XUAN TOAN Trang 6 HDKII : TS: TRAN DANG THỊNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHAM PHẦN NỘI DUNG SVTH: DO XUAN TOAN Trang 7 HUNI! TS: TRẤN BANG THỊNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHAM CHƯƠNG ! CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC KHU CÔNG NGHIỆP-KHU CHẾ XUẤT (KCN, KCX) 1.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIEN QUAN ĐẾN KCN-KCX. Khu công nghiệp (Entes prisze- zone) Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ca khái niệm về khu công nghiệp (KCN) và chưa đi đến một khái niệm thống nhất. Có quan điểm coi KCN là một hình thái phân bố công nghiệp lớn hơn và phức tạp hơn một trung tâm công nghiệp, gồm nhiều trung tâm công nghiệp phân bố tương đối gần nhau. Nhung theo các nhà khoa học thuộc Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô trước đây thì KCN được hiểu như sau: “KCN là một nhóm trung tâm công ngiệp, phân bổ gần nhau.
kết hợp với nhau bởi sự chuyên môn hóa chung, bởi một mạng lưới vận tải thống nhất và những mối liên hệ chặt chẽ ” [52,263] Nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đấu tư vào KCN, tuỳ thuộc vào diéu kiện, hoàn cảnh thực tế của Việt Nam. Nghị định 192/CP của Chính phủ Việt Nam xác định: “Khu công nghiệp do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Trong KCN có thể có KCX, xí nghiệp chế xuất, Kho ngoại quan thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam" [52,263]. Vì vậy trong Quy chế KCN, KCX , Khu công nghệ cao ban hành theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ thi KCN được hiểu như sau: “KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoăc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Trong KCN có thể có doanh nghiệp Khu chế xuất”. SVTH: DO NUAN TOAN Trang 8 HUKII: TS TRAN DANG THỊNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI H Vì KCN là một hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp, luôn gắn lién phát triển với xảy dựng kết cấu hạ tẳng và hình thành mạng lưới đô thị, phân bố dân cư. Cho nền việc phân bố các KCN phải đảm bảo các điều kiện về: khả nang cung cấp nguyên liệu và cự ly vận tải thích hợp. có thị trường tiêu thụ sản phẩm.
có khả năng đáp ứng nhu cầu lao động, tiền lương, kết hợp phát triển công nghiệp với quy hoạch đô thị, đảm báo quốc phòng an ninh. Vì vậy việc xây dựng và phát triển các KCN phải đảm bảo khai thác có hiệu quả cao nhất tiềm năng và thế mạnh của từng vùng kinh tế và đất nước {45,120-121] 1. Khu công nghệ cao (KCNC) Trong Quy chế KCN, KCX, KCNC của Thủ tướng Chính phủ ban hành thì KCNC được hiểu như sau: “KCNC là khu tập trung các doanh nghiệp kỹ thuật cao và cúc đơn vị phục vụ cho phát triển công nghệ cao bao gồm: nghiên cứu- triển khai khoa học - công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất” |55] 1.
Khu chế xuất (Export processing zone - Epz KCX) Cho đến nay các nhà kinh tế học còn có nhiều ý kiến khác nhau vé khái niệm khu chế xuất (KCX). Theo nghĩa hẹp thì “KCX là một khu lãnh địa riêng ngăn cách với bên ngoài của nước sở tại, tách rời khỏi chế độ thương mại và thuế quan của nước được áp dụng với một loạt những ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài”. Định nghĩa này phù hợp với quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) :"KCX là khu vực được giới hạn về hành chính có khi về địa lý, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập khẩu trang thiết bi và mọi sản phẩm nhằm mục đích sản xuất xuất khẩu. Chế độ thuế quan được ban hành cùng với những quy định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài”.
Theo nghĩa rộng. Điều lệ hoạt động của hiệp hội các Khu chế xuất thế giới (Wepza) thì “KCX bao gồm tất cả các khu vực được Chính SVTH: DO XUAN TOAN Trang 9 ADK: TS TRAN DANG THỊNH KHÓA LUAN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SU PHAM phủ các nước cho phép như cảng tự do, khu vực mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kỳ khu vực miễn thuế”. Ở Việt Nam, KCX được hiểu theo nghĩa hẹp. đến thời điểm hiện tại và được đình nghĩa trong Quy chế KCN, KCX, KCNC (ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ) tai Diéu 2, Chương | nêu rõ ;” KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dich vụ săn xuất hàng xuất khẩu và hoạt đông xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định.
không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập” [24, 248-249] 1. Khái niệm Vùng kinh tế : Có rất nhiều quan niệm khác nhau vé Vùng kinh tế do cách nhìn ,mục đích và tiêu chí khác nhau. Song dd quy mô Vùng kinh tế như thế nào, lớn hay nhỏ, chúng ta cũng thấy đều có đặc điểm chung nhất. Đó là một vùng lãnh thổ có ranh giới nhất định, trong đó có sự tác động, tương hỗ giữa các yếu tố tự nhiên, môi trường và con người (bao gồm các hoạt động sản xuất và tiêu thụ).
Có thể hiểu vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ do các thành phẩn cấu tạo nên nó cũng có mối quan hệ có chọn lọc với không gian các cấp bên ngoài, Vùng tổn tại do yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân. khái niệm Vùng kinh tế (hay kinh tế vùng) được hiểu như sau: "Vùng kinh tế là điểm hội tụ của nền kinh tế trung ương và địa phương, nhằm dẫn hình thành một cơ cấu công nông nghiệp thích hợp". Đây là khái niệm Vùng kinh tế ở mức độ hành chính tỉnh và liên tỉnh. Còn đối với Vùng kinh tế - xã hội lớn phải đủ tiểm lực để trang bị kỹ thuật ,đổi mới kỹ thuật - công nghệ cho nền kinh tế quốc din trong phạm vi lãnh thổ của mình.
Do đó cẩn có một mạng lưới nang lương. nguyên liệu, lương thực cùng với những cơ sở chế tạo và thiết kế cơ bản, Trong diều kiện khoa học đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, trong Vùng SVTH: DO NUAN TOAN Trang 10 HDKIL; TS TRAN DANG THỊNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DAL HỌC SU PHAM kinh tế phải có một hệ thống nghiên cứu và đào tạo hoàn chỉnh bao gồm các trường đại học. cao đẳng và trung học dạy nghề với quy mô thích hợp.5-8] Vùng kinh tế trong điểm là vùng có ranh giới "cứng" và "mềm". Ranh giới cứng bao gồm một số đơn vị hành chính cấp tỉnh và ranh giới mềm là khu nhân gồm các đô thị và phạm vi ảnh hưởng của nó (24, 235].
Doanh nghiệp chế xuất: La doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu va thực hiện các dịch vụ chuyên cho hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo Quy chế do Chính phủ ban hành. Doanh nghiệp Khu công nghiệp: Là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong Khu công nghiệp gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ[55]. QUAN DIEN VA MỘT SỐ CHÍNH SÁCH CUA DANGVE HÌNH THÀNH ,PHÁT TRIEN CÁC KCN-KCX. Quan điểm, đường lối của Đảng Chúng ta đi lên xây dựng CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nể, cẩn phải nhanh chóng vươn lên nắm bắt cơ hội ,vượt qua thách thức, phát triển nhanh chóng và bển vững để hội nhập khu vực và thế giới.
Vì vậy, Đẳng ta đã xác định: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển kinh tế, thực hiện CNH-HĐH là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH. Xác định đúng nhiệm vụ đó Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn điện nén kính tế-xã hội trong đó tập trung xây dựng và hình thành các khu công nghiệp -khu chế xuất nhằm các mục tiêu sau : 1. Tăng trưởng công nghiệp, tăng nguồn hàng xuất khẩu. tạo việc làm và từng bước phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tiết kiệm đất, sử dụng có hiệu quả vốn dau tư để phát triển cơ sở hạ tang, hạn chế ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp gây ra đồng thời thúc đẩy các cơ sở sản xuất, dịch vụ khác phát triển.
SVTHI: ĐÓ NUAN TUÂN Trang | | HUAN : TS TRAN DANG THINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SU PHAM Đại hội Dang toàn quốc lan thứ VI (12/1986) đã xác định "xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, phát triển kinh tế, thực hiện CNH-HĐH là nhiệm vụ trung tâm trong suốt quá trình quá độ lên CNXH".Vì vậy tại Hội nghị trung ương Đảng lần 7 khoá VII trong Chương trình phát triển công nghiệp một lần nữa khẳng định: "hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả KCX và khu công nghệ cao), tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công ngiệp mdi” | 15, 180] Chiến lược xây dựng và phát triển các KCN, KCX đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và được xác định rõ trong các Nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước. Đây chính là những định hướng quan trọng về đường lối phát triển kinh tế-xã hôi của Đảng và Nhà nước nhầm thúc đẩy quá trình CNH- HĐH. chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiên đại hoá. Trong nội dung cơ bản của quá trình CNH-HĐH trong những năm còn lại của thập niên 90 Đảng chủ trương :“cải tạo các khu công nghiệp hiện có về kết cấu hạ tang và công nghệ sản xuất.
Xây dựng mới một số khu công nghiệp phân bố rộng trên các vùng"(15, 88].