CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Trong cuốn giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Đại học Kinh tế quốc dân, nguồn nhân lực được định nghĩa “là nguồn lực con người.
Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cư bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một nguồn lực của phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [31, tr. Nguồn nhân lực còn được hiểu là “số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất”. Giáo trình Kinh tế phát triển của Đại học Kinh tế quốc dân thì nhận định: Nguồn nhân lực – nguồn lao động, “là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân”.165] Ở khái niệm này, nguồn nhân lực được phản ánh thuần túy là số người trong độ tuổi lao động (mặt số lượng) hay số lượng lao động có thể huy động được vào nền kinh tế. Nguồn lao động còn được hiểu là lực lượng lao động.
Lực lượng lao động, theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động được quy định, thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp. 8 Như vậy, từ những khái niệm cũng như là góc độ tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực, có thể tổng kết lại như sau: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực chỉ toàn bộ nguồn lực con người, gồm thể lực, trí lực, phẩm chất…, có thể huy động được cho phát triển kinh tế. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động quy định đang làm việc, người thất nghiệp và lao động dự phòng (lao động thực tế và lao động tiềm năng). Theo nghĩa này, nguồn nhân lực là tổng số tất cả những người trong độ tuổi lao động được đào tạo (có trình độ chuyên môn), không được đào tạo, đang làm việc hoặc không đang làm việc.
Theo nghĩa hẹp hơn nữa, nguồn nhân lực là những người trong độ tuổi lao động quy định, thực tế có tham gia lao động (có việc làm) và những người chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm. Theo nghĩa này, nguồn nhân lực chính là lực lượng lao động, là dân số hoạt động kinh tế tích cực, có những đóng góp cho nền kinh tế. Tất cả các khái niệm trên (dù theo nghĩa hẹp hay rộng) đều có điểm chung, đó là đều phản ánh về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định. Trong các nội dung phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, hầu hết các khái niệm đã nêu đều tập trung nhấn mạnh ở khía cạnh thể lực (sức khỏe) và trí lực (trình độ chuyên môn, tay nghề) của người lao động, một số khái niệm có thêm khía cạnh nhân cách, phẩm chất của người lao động. 9 Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực.
Khái niệm KCN Tại điều 2, nghị định số 29/2008/NĐ-CP ban hành ngày 14/03/2008 của Chính phủ Quy định về KCN, khu chế xuất và khu kinh tế thì khái niệm KCN được hiểu như sau: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này. Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị định này. KCN, khu chế xuất được gọi chung là KCN, trừ trường hợp quy định cụ thể. Như vậy, KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất. Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, bao gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ. Khái niệm về nguồn nhân lực trong các KCN Từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách khái quát về nguồn nhân lực trong các KCN như sau: nguồn nhân lực trong các KCN là tổng thể năng lực lao động tập thể được huy động từ tập hợp các năng lực lao động cá nhân của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong các KCN. 10 Quan điểm về chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN: Như vậy, nguồn nhân lực trong các KCN là sự tổng hợp có tính hai mặt: lượng và chất.
Trong đó, mặt lượng phản ánh số lượng lao động hiện đang làm việc và có tên trong danh sách của các doanh nghiệp trong các KCN; mặt chất hay chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN phản ánh tổng thể các yếu tố cấu thành nên năng lực lao động của toàn bộ nhân lực tại các doanh nghiệp trong các KCN.Chất lượng người lao động trong các KCN thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu của người lao động đối với các hoạt động trong KCN. Theo đó, chất lượng của người lao động phụ thuộc vào các năng lực của họ về mặt thể chất và tinh thần. Các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực trong các KCN theo quan niệm trên là cách hiểu khái quát và có nội hàm rộng. Nó phản ánh những thuộc tính, đặc trưng cơ bản của các yếu tố cấu thành năng lực lao động của mỗi con người cụ thể được biểu hiện ở tình trạng sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, phẩm chất đạo đức, tâm lý, ý thức sáng tạo, mức độ cố gắng, lòng đam mê…của người lao động.
Có thể đánh giá chất lượng nguồn nhân lực tại các KCN theo các chỉ tiêu sau: 1. Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe – thể lực Sức khỏe, thể lực của mỗi con người được xem là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Theo định nghĩa trong cuốn Giáo trình Quản trị nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, sức khỏe của nguồn nhân lực là trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của con người. Sức khỏe thể chất là sự cường tráng, là năng lực lao động chân, tay.
Sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động trí tuệ, khả năng biến tư duy thành hành động thực tiễn; khả năng thích ứng đối với các biến động của môi trường xã hội. Để đánh giá tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực, người ta thường căn cứ vào các chỉ tiêu sau: -Chỉ tiêu phản ánh chiều cao, cân nặng trung bình của nhân lực: Trong sản 11 xuất công nghiệp, chiều cao và cân nặng trung bình là các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình trạng thể lực của người lao động. Không chỉ có thế, nó còn phản ánh mức độ phù hợp của người lao động về chiều cao và cân nặng với kích thước và các chỉ số kỹ thuật khác của máy móc, thiết bị, công nghệ được sử dụng trong quá trình sản xuất tại doanh nghiệp. Để xác định chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động, người ta thường thu thập thông tin thống kê từ kết quả các cuộc điều tra xã hội học hoặc khảo sát các chỉ số nhân trắc học của người lao động.
Ngoài ra, để đánh giá chiều cao, cân nặng của người lao động, hiện nay người ta thường dùng phổ biến chỉ số béo, gầy BMI (Body Mass Index). Chỉ số này được tính theo công thức: Cân nặng (kg) BMI = [Chiều cao (m)]2 Để xác định người béo, gầy, người ta dùng các ngưỡng mức độ sau: Bảng 1.1: Ngưỡng mức độ béo gầy Mức độ béo, gầy (i) BMI của nam BMI của nữ Quá gầy Thấp hơn hoặc bằng 16 Thấp hơn hoặc bằng 16 Gầy 16,1 – 18 16,1 – 18 Hơi gầy 18,1 – 20 18,1 – 18,6 Bình thường 20 – 25 18,7 – 23,8 Béo 25,1 – 30 23,9 – 28,6 Quá béo Từ 30 trở lên Từ 28,6 trở lên Nguồn: [24, tr.24, 25] Căn cứ vào việc xác định người béo, gầy, chúng ta có thể xác định và đo lường được tình trạng sức khỏe, thể lực chung của lực lượng lao động thông qua chỉ tiêu tỷ lệ lao động béo gầy ở mỗi cấp độ. -Chỉ tiêu phân loại sức khỏe: Bộ Y tế Việt Nam quy định 3 trạng thái sức khỏe là: Loại A: Thể lực tốt không có bệnh tật; Loại B: Trung bình; Loại C: Yếu, không có khả năng lao động.