Mở đầu, tác giả đã khẳng định NNL - nguồn lực quý giá nhất của các tổ chức, đơn vị, là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trong tương lai và để đảm bảo mục tiêu cho sự phát triển, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến đào tạo và phát triển NNL. Từ đó, tác giả đã lý giải những nội dung liên quan đến NNL, đào tạo NNL, phát triển NNL, năng lực của người lao động, động cơ thúc đẩy người lao động. Đặc biệt, tác giả con nêu ra yêu cầu của việc đào tạo và phát triển NNL phải đảm bảo cải tiến cơ cấu, phát triển trình độ chuyên môn, phát triển kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao trình độ nhận thức và nâng cao trình độ sức khỏe cho người lao động. Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (đồng chủ biên), Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và h i nhập quốc tế [92].
Cuốn sách được chia thành 3 phần, trong đó phần I của cuốn sách đề cập đến những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về phát triển NNL… Trong phần II cuốn sách tập trung vào nội dung giới thiệu kinh nghiệm phát triển NNL của một số ngành trong nước, của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Phần III cuốn sách tập trung phân tích thực trạng, những bất cập, thách thức và đề xuất các giải pháp phát triển NNL nói chung. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Dự báo xu thế phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng năng lực cạnh tranh của thị trường lao đ ng trong bối cảnh h i nhập [12], trên cơ sở nghiên cứu các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu chủ trương, chính sách của Việt Nam về phát triển NNL, các chương trình phát triển NNL và chiến lược phát triển KT-XH đặt trong bối cảnh hội nhập, nhóm nghiên cứu đã đánh giá thực trạng công tác dự báo NNL Việt Nam và kết quả đạt được sử dụng các phương 14 pháp dự báo NNL. Từ đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra dự báo về xu thế phát triển NNL đáp ứng nhu cầu cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và đầu tư, Nguồn nhân lực chất lượng cao: hiện trạng phát triển, sử dụng và các giải pháp tăng cường [139]. Nội dung nghiên cứu của đề tài đã phân tích và chỉ ra trong bước đi đầu tiên của chiến lược phát triển phải đặt con người vào vị trí trung tâm hay nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển KT- XH và các mục tiêu phát triển KT-XH cũng hướng đến phát triển NNL, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC). Từ những lập luận trên, đề tài đi vào phân tích và đánh giá hiện trạng yếu kém của chiến lược phát triển và sử dụng NNLCLC ở nước ta và đề xuất những giải pháp tăng cường phát triển hiệu quả NNLCLC trong giai đoạn hiện nay. Lê Thị Hồng Điệp, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam [42], trong nội dung luận án đã trình bày những khái niệm cơ bản như NNL, NNLCLC, đặc điểm NNLCLC ở nước ta và vấn đề phát triển NNLCLC; Phân tích những vấn đề gia tăng dân số, cơ cấu NNL, tỷ lệ nhân lực khoa học, công nghệ, đặc điểm, yêu cầu của nền kinh tế tri thức đối với NNLCLC; từ đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển NNLCLC để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam Bùi Thị Ngọc Lan, "Nguồn nhân lực chất lượng cao Việt Nam - xu hướng và giải pháp phát triển'' [64, tr.
Bài viết khái quát thực trạng NNLCLC của Việt Nam qua những số liệu minh chứng. Từ đó, tác giả đưa ra hai xu hướng phát triển của NNLCLC của Việt Nam: một là, NNLCLC tăng nhanh về số lượng và chất lượng; Hai là, xu hướng quốc tế hóa NNLCLC. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra bốn giải pháp cơ bản nhằm phát triển NNLCLC của Việt Nam. Vũ Thị Phương Mai, Nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay [77].
Trong luận án, tác giả đã đưa ra khái niệm về NNLCLC với cấu trúc của NNLCLC bao gồm: đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ (KH-CN); đội ngũ lao động lành nghề; đội ngũ các chuyên gia quản trị kinh doanh và những doanh nhân giỏi và đặc điểm của NNLCLC trên các góc độ: trình độ học vấn; tính năng động xã hội; phẩm chất đạo đức. Tác giả cũng đã nêu lên mối quan hệ, cũng như phân tích sâu sắc những yếu tố tác động trực tiếp đến sự phát triển NNLCLC trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay. Luận án đã phân tích thực trạng NNLCLC ở Việt Nam trên về thành tựu và hạn chế của đội ngũ cán bộ quản lý; đội ngũ cán bộ khoa học 15 công nghệ; đội ngũ lao động lành nghề; về đội ngũ doanh nhân và những cấn đề đặt ra với việc phát triển NNLCLC trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay. Từ việc phân tích rõ thực trạng, tác giả đã đề xuất 05 nhóm giải pháp góp phần phát triển NNLCLC trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay.
Lương Công Lý, Giáo dục đào tạo với việc phát triển NNLCLC ở Việt Nam hiện nay [74]. Trong luận án, tác giả đã trình bày và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về NNL, NNLCLC và nội dung của phát triển NNLCLC; quan niệm NNLCLC cùng với đó là những nhân tố ảnh hưởng; phân tích thực trạng vai trò của giáo dục đào tạo đối với phát triển NNLCLC ở Việt Nam từ 1986 đến nay; đề xuất một số phương hướng giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của GD-ĐT với việc phát triển NNLCLC ở nước ta hiện nay. Quyền Đình Hà, "Vận dụng kinh nghiệm các nước để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta ở giai đoạn hiện nay" [44, tr. Trong bài viết tác giả đã tập hợp kinh nghiệm của một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Điển… và rút ra kinh nghiệm và bài học cho chính sách phát triển NNLCLC ở Việt Nam.
Qua việc đánh giá khái quát thực trạng NNLCLC ở nước ta hiện nay, tác giả đã đề xuất các giải pháp cho phát triển NNLCLC phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nước ta nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Trần Văn Tùng, Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng [128]. Tác giả cuốn sách đã tập trung trình bày những kinh nghiệm trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng tài năng khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ và một số quốc gia châu Âu, châu Á. Từ đó, đặt ra vấn đề Việt Nam cần đổi mới các chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng NNL tài năng hiện có.
Phạm Hồng Tung, Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam [126]. Cuốn sách giúp chúng ta đánh giá tương đối toàn diện về những mặt tích cực và hạn chế của thực tiễn đào tạo và sử dụng nhân tài của cha ông ta trong các thời kỳ lịch sử; những quan niệm mới về nhân tài Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và sự xuất hiện của đội ngũ trí thức Tây học. Tác giả đã phân tích sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo thế hệ nhân tài góp phần xây dựng đất nước. Trên cơ sở đó tác giả đã đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu, góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát hiện, đào tạo và sử dụng, đãi ngộ nhân tài - hay chính là nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay.
Nguyễn Văn Khánh, Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam [59]. Công trình là kết quả nghiên cứu, hội thảo của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh 16 vực khác nhau trong khuôn khổ đề tài khoa học cấp Nhà nước K.22/06-10: Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI. Công trình mong muốn lý giải một số vấn đề cơ bản về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ. Cuốn sách được kết cấu thành bốn phần bao gồm: Phần I: Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ - những vấn đề chung.
Phần II: Nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch sử và hiện tại. Phần III: Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước. Phần IV: Phát triển và sử dụng nguồn lực trí tuệ - tiếp cận từ kinh nghiệm nước ngoài. Cuốn sách có ý nghĩa tham khảo quan trọng về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong việc phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam.
Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba với chủ đề: Việt Nam: H i nhập và phát triển [142] thuộc đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: "Xây dựng đ i ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020", đã viết về thực trạng và giải pháp phát triển NNL ở Việt Nam. Trong đó, NNL Việt Nam được xác định gồm NNL từ nông dân, công nhân, trí thức, công chức viên chức và có những đặc điểm chung là: NNL ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, nhiều người chưa được đào tạo; CLNNL chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất; Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa NNL từ nông dân, công nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ đất nước. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp phát triển NNL Việt Nam (Cần coi NNL là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam; nâng cao chất lượng con người và chất lượng cuộc sống; Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo NNL từ nông dân, công nhân, trí thức; có kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng các NNL cho đúng; hàng năm, Nhà nước cần tổng kết về lý luận và thực tiễn về NNL ở Việt Nam, đánh giá đúng mặt được, mặt chưa được, kịp thời rút ra những kinh nghiệm, trên cơ sở đó mà xây dựng chính sách mới và điều chỉnh chính sách đã có về NNL ở Việt Nam.