Chương 1: Giới thiệu: Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, những điểm nổi bật của đề tài và kết cấu đề tài. Chương 2: Tổng quan về cơ sở lý thuyết: Chương này tập trung trình bày phần cơ sở lý thuyết của nghiên cứu bao gồm các nội dung như lý thuyết về đầu tư 4 trong nước, lý thuyết về nguồn nhân lực, đặc điểm nguồn nhân lực, lý thuyết về nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế, lý thuyết về đầu tư. Cuối cùng là các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, trình bày quy trình và phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu sử dụng trong đề tài.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Để có cơ sở phân tích nghiên cứu Chương này bắt đầu từ phần giới thiệu tổng quan tình hình kinh tế - xã hội của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam. Tiếp đến đi sâu phân tích về kết quả nghiên cứu phân tích dữ liệu, xác định rõ các biến có tác động đến kết quả thu hút vốn đầu tư trong nước. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị: Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu đạt được. Từ lý thuyết đưa ra ở Chương 2, mô hình nghiên cứu Chương 3 và kết quả phân tích từ Chương 4, đề tài đưa ra những kết luận và khuyến nghị cụ thể đối với các chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm thu hút tốt hơn nguồn vốn đầu tư trong nước.
Cuối cùng Đề tài đưa ra những hạn chế và những gợi ý nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết được bắt đầu bằng các khái niệm như: đầu tư, đầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn nhân lực, … các cơ sở lý thuyết liên quan đến đềi tài. Cuối chương trình bày các nghiên cứu trước, bao gồm các nghiên cứu trong nước và ngoài nước.1 Đầu tư Keynes (1936) cho rằng đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận. Theo Samuelson và Nordhaus (1997), “Đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thật sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho.
Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nghiên cứu, phát minh”. Sachs - Larrain (1993) định nghĩa tổng quát về đầu tư như: "Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế". Theo Đinh Phi Hổ và ctg (2009), vốn sử dụng trong hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư. Tổng vốn đầu tư được hình thành từ nguồn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
Trong đó, vốn đầu tư trong nước có được từ tiết kiệm trong nước, bao gồm: tiết kiệm từ ngân sách chính phủ, doanh nghiệp và dân cư. Tại Việt Nam theo Luật Đầu tư (2005), đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Như vậy có thể khái quát, đầu tư được hiểu là việc sử dụng một lượng giá trị, nguồn lực vào việc tạo ra giá trị hoặc tăng cường cơ sở vật chất cho nền kinh tế nhằm thu được các kết quả trong tương lai lớn hơn lượng giá trị đã bỏ ra. 6 Căn cứ vào tính chất thì đầu tư được chia làm 02 loại: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Theo Luật Đầu tư (2005), Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ; Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư; Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp. Ở góc độ phạm vi cấp quốc gia, nguồn vốn đầu tư được chia thành 02 nguồn: - Nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có ưu thế là bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển KT-XH, giúp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đây là dòng vốn lưu chuyển quốc tế (international capital flows), là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế của thế giới. - Nguồn vốn đầu tư trong nước (DI): Nguồn vốn đầu tư trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia, có ưu điểm là bền vững, ổn định, chi phí thấp, rủi ro ít và tránh được các hậu quả gây ra từ bên ngoài. Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn Nhà nước, vốn tín dụng, vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân và dân cư chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế.2 Đầu tư trong nước Word Bank (2013), Đầu tư trong nước được đại diện bởi tổng vốn cố định (GFCF), bao gồm cải tạo đất, nhà máy, máy móc, mua sắm thiết bị và xây dựng đường giao thông, đường sắt, nhà ở dân cư tư nhân, các tòa nhà thương mại và công nghiệp không bao gồm tất cả các loại tài sản tài chính.
Theo Luật Đầu tư (2005), đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. 7 Đầu tư trong nước bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn của doanh nghiệp nhà nước, vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước và vốn đầu tư của hộ kinh doanh gia đình.3 Nguồn nhân lực 2.1 Khái niệm Theo Phạm Minh Hạc (2001), nguồn lực con người cần được hiểu là số dân và chất lượng con người bao gồm: cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất. Đoàn Văn Khái và ctg (2001), nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội. Bộ luật Lao động (2012) qui định, người lao động là người đủ từ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn lực con người được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, nguồn lực con người là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển, do đó, nó bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Ở nghĩa hẹp, nguồn lực con người là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào quá trình lao động sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân có thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về trí lực, thể lực, tâm lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Như vậy, hầu hết các nhà khoa học khi nghiên cứu về vấn đề con người tuy ở nhiều góc độ khác nhau song đều thống nhất khái niệm nguồn lực lao động bao gồm những người có việc làm (trong độ tuổi lao động và trên tuổi lao động) và những người chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm (đang thất nghiệp). Lực lượng lao động không bao gồm những người trong tuổi lao động nhưng nằm trong 8 tình trạng: làm nội trợ chính trong gia đình, học sinh, sinh viên, những người không có nhu cầu làm việc, … 2.2 Một số đặc điểm của lực lượng lao động Theo Đỗ Thị Xuân Phương (2000) cho rằng, chất lượng lực lượng lao động là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống của người dân trong một xã hội nhất định. Chất lượng lực lượng lao động được thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu.
Chất lượng nguồn lực con người là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Đó là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kĩ năng, sức khỏe, thẩm mỹ. của người lao động. Trong các yếu tố ấy thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
Thể lực là năng lực thể chất của nguồn nhân lực, đây là tiêu chí khá quan trọng về chất lượng nguồn nhân lực, thường bao gồm tiêu chí về tình trạng sức khỏe của con người như: chiều cao, cân nặng, bệnh tật, tuổi thọ, trạng thái thoải mãi về tinh thần cũng như thể chất và xã hội của con người. Chính vì các tiêu chí này, thể lực nguồn nhân lực phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phân phối thu nhập cũng như chính sách xã hội trước mắt và lâu dài của mỗi quốc gia, nếu như các vấn đề liên quan đến sức khỏe, dinh dưỡng không được giải quyết tốt sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nguồn lực con người cả về thể lực lẫn trí tuệ. Các điều kiện sống tốt sẽ giúp nâng cao tuổi thọ trên cơ sở tăng cường thể lực cùng với cải thiện nhanh về hình thể, trước hết là chiều cao và trọng lượng người lao động. Trí lực biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực, tinh thần, thái độ, tác phong làm việc.đây là một tiêu chí có vai trò quan trọng trong đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn lực con người là trừu tượng, tuy nhiên, theo C.