Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ 1. Những vấn đề cơ bản về đầu tư 1. Quan niệm về đầu tư 1. Đầu tư Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học,.), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật.) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 (Luật Đầu tư): Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định. Như vậy, có thể khái quát: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình trong một thời gian tương đối dài nhằm thu được lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế - xã hội.
Nhà đầu tư: Nhà đầu tư theo Luật Đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm: a) Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh nghiệp; b) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã; Phạm Văn Long Khóa học 2010 6 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội c) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực; d) Hộ kinh doanh, cá nhân; đ) Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam; e) Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Đầu tư trực tiếp Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư trực tiếp bao gồm các hình thức cụ thể sau: 1.
Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập các tổ chức kinh tế sau đây: Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp; Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật; Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi; Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Ngoài các tổ chức kinh tế trên, nhà đầu tư trong nước được đầu tư để thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức và hoạt động theo Luật hợp tác xã; hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Nhà đầu tư nước ngoài liên kết với nhà đầu tư trong nước, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công ty như công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên trở lên), công ty cổ phần… Phạm Văn Long Khóa học 2010 7 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Việc liên kết đó đã tạo ra các tổ chức kinh tế liên doanh giữa một bên là doanh nghiệp trong nước và một bên là nhà đầu tư nước ngoài. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT. - Hợp đồng BCC (Hợp đồng hợp tác kinh doanh): Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. * Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng BCC để hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác.
Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng. Hợp đồng BCC trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác dưới hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. - Hợp đồng BOT (Hợp đồng xây dựng- kinh doanh - chuyển giao): Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. - Hợp đồng BTO (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao – kinh doanh):Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
- Hợp đồng BT (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao): Hợp đồng xây dựng - chuyển giao là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho Phạm Văn Long Khóa học 2010 8 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT. * Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa và vận hành các dự án kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác theo quy định. Đầu tư phát triển kinh doanh. Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức: * Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh; * Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường.
Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Nhà đầu tư được góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại Việt Nam. Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số lĩnh vực, ngành, nghề do Chính phủ quy định. Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
Nhà đầu tư được quyền sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh. Điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo quy định của Luật này, pháp luật về cạnh tranh và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Các hình thức đầu tư trực tiếp khác. Đầu tư gián tiếp Đầu tư giám tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư gián tiếp bao gồm các hình thức cụ thể sau: 1. Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; 1. Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; 1. Thông qua các định chế tài chính trung gian khác.
Phạm Văn Long Khóa học 2010 9 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 1. Đầu tư nước ngoài - Khái niệm và phân loại Đầu tư nước ngoài là hình thức di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm mục đích kiếm lợi. Vốn đầu tư đó có thể là nhà nước, vốn của tư nhân hoặc vốn của các tổ chức tài chính quốc tế. Vốn của nước ngoài có thể tồn tại dưới dạng tiền tệ (ngoại tệ, nội tệ), các vật thể hữu hình (hàng hoá, tư liệu sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, đất đai,…) và các phương tiện đầu tư khác như cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán có giá khác,… Luật Đầu tư năm 2005 thì định nghĩa: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đầu tư đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư.
Vốn đầu tư nước ngoài được các nhà kinh tế phân thành hai hình thức cơ bản sau: đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. - Đầu tư nước ngoài gián tiếp: Là hình thức đầu tư vốn ra nước ngoài thông qua hoạt động cho vay, viện trợ và mua bán chứng khoán có giá (tư bản giả) và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư nước ngoài gián tiếp bao gồm các hình thức: + Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistence) gọi tắt là ODA. Đây là nguồn vốn viện trợ song phương hay là đa phương với một tỷ lệ là viện trợ không hoàn lại, phần còn lại là chịu lãi suất thấp còn thời gian dài hay ngắn tuỳ theo từng dự án.
Nó cũng là nguồn vốn của Chính phủ nước ngoài hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp thông qua tổ chức quốc tế; tổ chức liên chính phủ hoặc phi chính phủ là nguồn ODA hỗn hợp bao gồm một phần của Chính phủ nước ngoài, một phần do các doanh nghiệp hoặc tổ chức phi chính phủ đóng góp. Vốn ODA có thể đi kèm hoặc không kèm theo điều kiện của Chính phủ.