Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sau công cuộc Đổi mới năm 1986, nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, gắn liền với sự hình thành và mở rộng mạng lưới các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) và khu kinh tế (KKT). Các KCN đóng vai trò động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, đồng thời giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển cho thấy chất lượng nguồn nhân lực tại các KCN còn nhiều bất cập: trình độ học vấn và kỹ năng nghề của người lao động (NLĐ) nhìn chung chưa cao, tốc độ cải thiện tay nghề còn chậm và không đồng đều, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật của các vị trí sản xuất phức tạp. Hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động KCN còn bộc lộ những khoảng trống thể chế, thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp (DN).

Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Đào Gia Linh (chuyên ngành Quản lý công, Khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài "Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam" dưới sự hướng dẫn của TS. Đinh Viết Hoàng.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định gồm ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho người lao động tại các khu công nghiệp.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động tại các KCN ở Việt Nam giai đoạn 2012 – tháng 6/2022, làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân nảy sinh các vấn đề xã hội liên quan.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể đối với Nhà nước, Ban Quản lý KCN và các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hoạt động đào tạo nghề trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đào tạo nghề cho người lao động và thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại các KCN ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào thực trạng đào tạo nghề và công tác quản lý nhà nước đối với lao động là người Việt Nam làm việc tại các KCN (không bao gồm lao động nước ngoài).
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc, tập trung khảo sát sâu tại 5 địa phương trọng điểm công nghiệp: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Bình Dương và Đồng Nai.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập, phân tích dữ liệu trong giai đoạn từ năm 2012 đến hết tháng 6/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Chuyên đề xây dựng khung phân tích dựa trên các khái niệm pháp lý và khoa học quản lý công:

  • Khu công nghiệp: Được tiếp cận theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định 82/2018/NĐ-CP (khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp) và định nghĩa của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO).
  • Lao động: Tiếp cận theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019.
  • Đào tạo và đào tạo nghề: Khái niệm đào tạo căn cứ theo Quy chế đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của Bộ Tư pháp; đào tạo nghề cho NLĐ được xác định là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết để người học có khả năng hành nghề.
  • Quản lý nhà nước về đào tạo nghề: Là hoạt động thực thi quyền lực công của các cơ quan nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật và chính sách để điều chỉnh các quan hệ đào tạo nghề, bảo đảm kỷ cương, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
  • Khung pháp lý điều chỉnh: Hiến pháp 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, Luật Việc làm 2013, Bộ luật Lao động 2019, Luật Tổ chức Chính phủ 2015 (sửa đổi 2019), Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi 2019), Nghị định 82/2018/NĐ-CP, Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Nghị định 110/2017/NĐ-CP.

Chuyên đề phân tích kinh nghiệm quản lý phát triển kỹ năng nghề của hai quốc gia:

  • Nhật Bản: Khung pháp lý kép gồm Luật Thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực và Luật Thúc đẩy học tập suốt đời; cơ chế chuẩn hóa tiêu chuẩn kỹ năng nghề của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản; bắt buộc doanh nghiệp cam kết tạo điều kiện học nghề; hệ thống các kỳ thi tay nghề cấp quốc gia, quốc tế, thi tay nghề trẻ và giải thưởng Grand Prix.
  • Hàn Quốc: Đạo luật khung về trình độ chuyên môn quốc gia (ban hành năm 1974, sửa đổi năm 1981); phân cấp quản lý cho Cơ quan Quản lý và Đào tạo nghề Hàn Quốc, Tổ chức Phát triển Nguồn nhân lực Hàn Quốc (HRD) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc (KCCI); quản lý hệ thống chứng chỉ kỹ thuật gồm 542 nghề kỹ thuật, 162 nghề chuyên nghiệp cùng các chứng chỉ tư nhân; đánh giá và cấp chứng chỉ cho khoảng 4 triệu lượt lao động mỗi năm.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm: phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp thống kê mô tả. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Vụ Quản lý các khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Tổng cục Thống kê, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Cục Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), Vụ Tài chính Hành chính sự nghiệp và kết quả điều tra của Đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số KX.45/16-20 ("Quản lý các vấn đề xã hội tại các khu công nghiệp ở Việt Nam") thực hiện năm 2019 với mẫu khảo sát 1.850 người lao động, 100 doanh nghiệp và 250 cán bộ quản lý công chức.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại khu công nghiệp ở Việt Nam

Chương I tập trung làm rõ cơ sở lý luận về khu công nghiệp, vai trò của KCN đối với tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và thúc đẩy liên kết vùng. Tác giả phân tích nội hàm quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề trong KCN thông qua các yếu tố cấu thành: ban hành thể chế pháp luật, thiết lập bộ máy tổ chức, phân bổ ngân sách, thanh tra, kiểm tra và tổ chức cung ứng dịch vụ công về đào tạo.

Phần tổng quan kinh nghiệm quốc tế rút ra các bài học quan trọng từ Nhật Bản và Hàn Quốc: việc luật hóa trách nhiệm đào tạo của doanh nghiệp, xây dựng ngân hàng đề thi chuẩn hóa quốc gia, gắn chứng chỉ nghề với hệ thống tiền lương và phân định rõ thẩm quyền giữa cơ quan hoạch định chính sách trung ương với các cơ quan khảo thí độc lập.

Chương II: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo cho lao động tại khu công nghiệp ở Việt Nam

Chương II phản ánh bức tranh thực tiễn về quy mô KCN, thực trạng lực lượng lao động và năng lực thực thi của bộ máy quản lý nhà nước:

1. Quy mô phát triển KCN và sử dụng lao động: Tính đến hết năm 2021, cả nước có 397 KCN được thành lập tại 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với tổng diện tích tự nhiên đạt 122,8 nghìn ha. Trong đó, 291 KCN đã đi vào vận hành và 106 KCN đang trong giai đoạn xây dựng cơ bản; tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt 70,9%. Cơ cấu KCN phân bố gồm: 352 KCN nằm ngoài khu kinh tế (chiếm 88,66%), 37 KCN trong khu kinh tế ven biển (9,32%) và 8 KCN trong khu kinh tế cửa khẩu (2,02%). Đến hết tháng 10/2021, KCN đã thu hút 10.996 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 230,2 tỷ USD (vốn thực hiện đạt ~69%) và 10.211 dự án DDI với 2,54 triệu tỷ đồng. Lực lượng lao động làm việc trong các DN tại KCN, KCX, KCNC đạt hơn 4,14 triệu người (chiếm 29,86% tổng lao động làm việc tại các DN trên toàn quốc).

Chỉ tiêu phát triển KCN Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021
Tổng số KCN thành lập 330 369 397
Số KCN đã đi vào hoạt động 258 284 291
Số KCN đang xây dựng cơ bản 72 85 106
Diện tích đất tự nhiên (nghìn ha) 97,0 114,0 122,8
Diện tích đất công nghiệp (nghìn ha) 65,9 73,6 58,7
Tỷ lệ lấp đầy bình quân (%) 74,3 70,2 70,9

2. Chất lượng nguồn nhân lực tại KCN: Trình độ học vấn của lao động KCN tập trung chủ yếu ở bậc THPT (chiếm 63,3%), THCS chiếm 24,1%, trình độ tiểu học chiếm 4,2%, trong khi trình độ đại học và sau đại học chỉ chiếm 4,0%. Tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo chuyên môn tại các KCN chiếm tới 68,6%; lao động có trình độ sơ cấp chiếm 3,1%, trung cấp nghề chiếm 8,6%, cao đẳng nghề chiếm 8,4%. Tỷ lệ lao động phổ thông có sự phân hóa mạnh giữa các địa phương: Vĩnh Phúc (82,5%), Đà Nẵng (78,1%), Bắc Ninh (68,3%), Đồng Nai (61,5%) và Bình Dương (52,9%).

Trình độ học vấn Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Tốt nghiệp tiểu học 77 4,2
Tốt nghiệp THCS 445 24,1
Tốt nghiệp THPT 1.171 63,3
Đại học và sau đại học 89 4,0
Tổng số khảo sát 1.850 100,0

3. Hoạt động đào tạo và đào tạo lại nghề: Đến năm 2020, toàn quốc có 1.911 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (408 trường cao đẳng, 446 trường trung cấp, 1.057 trung tâm GDNN), trong đó khu vực tư thục và có vốn đầu tư nước ngoài có 686 cơ sở (chiếm 35,8%). Giai đoạn 2016–2020, cả nước tuyển sinh được 11,1 triệu lượt người và tốt nghiệp 10,2 triệu người (bậc cao đẳng và trung cấp đạt 1,99 triệu người tốt nghiệp; bậc sơ cấp và các chương trình khác đạt 8,21 triệu người). Tỷ lệ học sinh, sinh viên tốt nghiệp trường nghề có việc làm đạt 85%. Đối với đào tạo tại chỗ, 92,7% doanh nghiệp và 79,5% NLĐ xác nhận có diễn ra hoạt động đào tạo lại tay nghề, song mức độ hợp tác chính thức giữa DN với trường nghề còn thấp: chỉ 9,11% DN có liên kết đào tạo và dưới 5% DN tiếp nhận học viên thực tập tốt nghiệp.

4. Thực trạng bộ máy quản lý, phân cấp và các nguồn lực:

  • Tổ chức bộ máy và nhân lực: Mô hình quản lý kết hợp ngành dọc (Bộ LĐTB&XH – Sở LĐTB&XH – BQL KCN) và ngành ngang (phối hợp liên ngành cấp tỉnh). Đội ngũ cán bộ quản lý công chức lĩnh vực lao động có trình độ chuyên môn cao (51,4% đại học, 44,6% sau đại học, 2,6% cao đẳng, 1,4% trung cấp). Tuy nhiên, lực lượng cán bộ công đoàn chuyên trách cơ sở hưởng lương công đoàn rất mỏng (641 người trên cả nước), phần lớn hoạt động kiêm nhiệm và chịu sự chi phối từ người sử dụng lao động.
  • Khó khăn thực thi công vụ: Khảo sát 250 cán bộ quản lý chỉ ra các rào cản lớn gồm: vướng mắc quy trình, thủ tục hành chính (63,8%); phân công, phân cấp chưa rõ ràng (61,3%); quy chế phối hợp giải quyết thủ tục hành chính chưa hiệu quả (68,1%).
  • Nguồn lực tài chính: Chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề năm 2020 tăng gấp 1,41 lần so với năm 2015, chiếm từ 13,90% (2015) lên 24,49% (2020) trong tổng chi thường xuyên NSNN. Ngân sách nhà nước chiếm 60% tổng nguồn tài chính dạy nghề, doanh nghiệp đóng góp khoảng 10%. Dù vậy, 77,4% cán bộ quản lý được hỏi đánh giá nguồn lực tài chính hiện tại vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu thực tế.
  • Tuyên truyền và thanh tra: 80,7% DN xác nhận có tiếp cận hoạt động tuyên truyền chính sách; 81% NLĐ biết và 77,7% tiếp cận được chính sách việc làm. Về thanh tra lao động, năm 2019 thực hiện 7.067 cuộc thanh tra, ban hành 1.497 quyết định xử phạt với số tiền 47,37 tỷ đồng; năm 2020 ban hành 320 quyết định (8,2 tỷ đồng); năm 2021 xử phạt và kiến nghị thu hồi sai phạm 175 tỷ đồng. Lực lượng thanh tra viên lao động còn thiếu trầm trọng, mới đáp ứng 40% định mức khuyến nghị của ILO (toàn quốc cần 800–1.000 thanh tra viên), dẫn đến khả năng thanh tra định kỳ hàng năm chỉ bao phủ được khoảng 3,4% tổng số DN trên địa bàn.

Chương III: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vấn đề xã hội về lao động tại các khu công nghiệp ở Việt Nam

Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn thể chế và thực tiễn, tác giả đưa ra hệ thống giải pháp chia thành hai nhóm đối tượng:

1. Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp và Ban Quản lý KCN:

  • Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ KCN về các chủ trương, chính sách quản lý đào tạo nghề.
  • Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý cho cán bộ thực thi công vụ tại các KCN.
  • Thúc đẩy DN trong KCN chủ động hợp tác với các cơ sở đào tạo nghề uy tín để xây dựng chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng và đào tạo lại tay nghề cho công nhân.

2. Nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước:

  • Hoàn thiện khung khổ thể chế: Sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 và Bộ luật Lao động năm 2019 theo hướng xác định rõ tư cách chủ thể của doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo nghề; ban hành cơ chế ưu đãi thuế, tài chính cụ thể cho DN tham gia đào tạo; hoàn thiện chế tài đối với việc không báo cáo công tác đào tạo cho cơ quan quản lý nhà nước; quy định rõ trách nhiệm, ràng buộc nghĩa vụ của NLĐ sau khi được DN chi trả kinh phí đào tạo.
  • Chuẩn hóa hệ thống khảo thí: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm và đề thi thực hành cho toàn bộ 191 nghề trọng điểm (thay vì mức 84 nghề hiện nay); ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
  • Tăng cường liên kết và phân cấp: Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa Sở LĐTB&XH, BQL KCN và cơ sở giáo dục nghề nghiệp; phân bổ ngân sách địa phương hỗ trợ kinh phí học nghề cho lao động KCN; khắc phục tình trạng phân cấp cào bằng không tính đến đặc thù vùng miền.
  • Ứng dụng công nghệ và dự báo thị trường: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa liên thông để thu thập thông tin cung - cầu lao động liên tục, kết nối dự báo nhu cầu tuyển dụng của DN với kế hoạch đào tạo của nhà trường.
  • Nâng cao năng lực thanh tra và thực thi: Kiện toàn tổ chức thanh tra lao động, tăng cường biên chế thanh tra viên đáp ứng khuyến nghị của ILO; bổ sung cơ chế kiểm tra giám sát có thẩm quyền phù hợp cho cán bộ chuyên trách BQL KCN; xây dựng cơ chế phối hợp xử lý và khắc phục sai phạm hậu thanh tra.

Kết quả và đóng góp

Chuyên đề tốt nghiệp đã tổng hợp và lượng hóa được thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động KCN tại Việt Nam thông qua các số liệu thứ cấp có độ tin cậy cao:

Nội dung chỉ tiêu Số liệu thực tế ghi nhận Nguồn trích xuất
Quy mô KCN toàn quốc (đến hết năm 2021) 397 KCN thành lập; 291 KCN hoạt động; 122,8 nghìn ha diện tích tự nhiên Vụ Quản lý các khu kinh tế
Tỷ trọng lao động KCN so với cả nước (2018) 4.148.932 người (chiếm 29,86% tổng lao động doanh nghiệp) Cục Việc làm
Trình độ chuyên môn kỹ thuật lao động KCN 68,6% lao động phổ thông; 3,1% sơ cấp; 8,6% trung cấp; 8,4% cao đẳng Khảo sát Đề tài KX.45/16-20
Tỷ lệ liên kết đào tạo giữa DN và trường nghề 9,11% DN hợp tác đào tạo; <5% tiếp nhận sinh viên thực tập Báo cáo Cục Việc làm
Tỷ lệ hoàn thiện chuẩn đánh giá kỹ năng nghề 84/191 nghề hoàn thành ngân hàng đề thi và bài thực hành Tổng cục GDNN
Năng lực bao phủ của thanh tra lao động Đáp ứng 40% định mức ILO; thanh tra bình quân 3,4% số DN/năm Bộ Lao động - TB&XH
Đánh giá khó khăn thể chế của cán bộ quản lý 68,1% vướng mắc quy chế phối hợp; 63,8% vướng thủ tục hành chính Khảo sát Đề tài KX.45/16-20

Đóng góp của chuyên đề thể hiện ở việc chỉ rõ những khoảng trống trong cơ chế quản lý hiện hành: tình trạng phân cấp đồng loạt thiếu tính đặc thù địa phương; sự thụ động trong quan hệ cung - cầu đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp; sự thiếu hụt công cụ quản lý CNTT trong cấp chứng chỉ nghề quốc gia; và bất cập về thẩm quyền kiểm tra, xử phạt vi phạm lao động tại Ban Quản lý KCN cấp tỉnh. Hệ thống giải pháp đề xuất bảo đảm tính khả thi, phân định rõ trách nhiệm giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và người sử dụng lao động.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu hoàn toàn dựa trên việc khai thác, xử lý các nguồn dữ liệu thứ cấp và các báo cáo khảo sát sẵn có (chủ yếu từ Đề tài KX.45/16-20 năm 2019 và báo cáo ngành đến tháng 6/2022); chưa thực hiện thu thập dữ liệu sơ cấp độc lập. Phạm vi không gian phân tích sâu giới hạn tại 5 địa phương (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai) và chỉ tập trung vào đối tượng lao động trong nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra sơ cấp đối với các KCN thuộc các vùng kinh tế trọng điểm mới; nghiên cứu so sánh tác động của chuyển đổi số và công nghệ tự động hóa đến nhu cầu đào tạo lại kỹ năng cho công nhân; bổ sung phân tích công tác quản lý lao động nước ngoài và chuyên gia kỹ thuật làm việc tại các KCN ở Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Chuyên đề là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý công, Khoa học Quản lý, Chính sách công, Quản trị nhân lực và Luật Kinh tế khi nghiên cứu về chính sách lao động - việc làm trong khu vực công nghiệp. Các bảng số liệu tổng hợp về thực trạng cơ cấu lao động KCN, năng lực thanh tra ngành LĐTB&XH và mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước tại Chương II có giá trị thực tiễn đối với cán bộ tham mưu chính sách tại Ban Quản lý KCN, Sở LĐTB&XH và các hiệp hội doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo tại các KCN ở Việt Nam theo khảo sát trong văn bản là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát 1.850 lao động thuộc Đề tài KX.45/16-20 được trích dẫn trong chuyên đề, tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo làm việc tại các KCN chiếm tới 68,6%. Lao động có trình độ sơ cấp chiếm 3,1%, trung cấp nghề chiếm 8,6%, cao đẳng nghề chiếm 8,4% và các trình độ khác chiếm 11,4%.

2. Khung tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia của Việt Nam đang gặp bất cập gì về công tác khảo thí? Theo số liệu trong chuyên đề, việc xây dựng và cập nhật các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia còn chậm so với nhu cầu thị trường; trong tổng số 191 nghề đã công bố, mới chỉ có 84 nghề hoàn thiện đầy đủ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm và bài kiểm tra thực hành; đồng thời hệ thống công nghệ thông tin phục vụ quản lý, đánh giá và cấp chứng chỉ nghề quốc gia vẫn chưa được thiết lập đồng bộ.

3. Khó khăn lớn nhất của đội ngũ cán bộ trong mô hình quản lý các vấn đề xã hội tại KCN là gì? Khảo sát 250 cán bộ quản lý cho thấy 3 khó khăn lớn nhất gồm: quy chế phối hợp liên ngành trong giải quyết thủ tục hành chính chưa hiệu quả (68,1% cán bộ đồng tình); quy trình, trình tự thực hiện thủ tục hành chính còn phức tạp (63,8%); và việc phân công, phân cấp, phân quyền giải quyết thủ tục hành chính chưa rõ ràng, hợp lý (61,3%).

4. Thực trạng hợp tác đào tạo giữa doanh nghiệp KCN và các trường nghề diễn ra như thế nào? Mặc dù 92,7% DN có tổ chức đào tạo lại nội bộ cho NLĐ, sự gắn kết chính thức giữa DN KCN với hệ thống cơ sở đào tạo nghề bên ngoài còn rất hạn chế: chỉ có 9,11% số DN tham gia hợp tác với các trường nghề và chỉ khoảng 5% DN tiếp nhận học viên đến thực tập tốt nghiệp cuối khóa.

5. Lực lượng thanh tra lao động Việt Nam hiện đáp ứng được bao nhiêu phần trăm yêu cầu thực tế? Số lượng thanh tra viên lao động hiện có mới chỉ đạt khoảng 40% so với nhu cầu thực tế theo tiêu chí của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO cần từ 800 đến 1.000 thanh tra viên trên toàn quốc). Với biên chế mỏng và chưa bố trí thanh tra viên chuyên trách tại cấp huyện hay Ban Quản lý KCN, bộ máy thanh tra mỗi năm chỉ thanh tra được khoảng 3,4% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn.

Kết luận

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tác giả Đào Gia Linh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và phân tích sâu sắc thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho người lao động tại các KCN ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2022. Bằng việc xử lý nguồn dữ liệu thứ cấp phong phú từ các cơ quan quản lý chuyên ngành và đề tài cấp Nhà nước, tác giả đã làm rõ các điểm nghẽn về cơ cấu tay nghề công nhân, cơ chế phân cấp và nguồn lực thực thi chính sách. Các kiến nghị đề xuất trong công trình tập trung vào việc hoàn thiện thể chế Luật Giáo dục nghề nghiệp, chuẩn hóa khảo thí kỹ năng nghề và thiết lập cơ chế liên kết ba bên giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo.