Chương I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lý thuyết về thị trường lao động * Lý thuyết sản xuất: Lý thuyết sản xuất (Pindyck và Rubinfied, 1995) trong kinh tế học vi mô cho thấy: các doanh nghiệp sẽ chọn lựa các yếu tố sản xuất dựa trên hiệu quả (thể hiện bởi sản phẩm biên) và chi phí tương đối của các yếu tố này. Do đó, nếu lao động rẻ một cách tương đối, các doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng lao động hơn là vốn trong sản xuất trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.1: Lựa chọn sử dụng yếu tố sản xuất của doanh nghiệp K I II A K1 B K2 Q L1 L2 L Nguồn: tham khảo từ Pindyck và Rubinfied (1995) Theo Hình 1.1, để sản xuất một mức sản lượng (thể hiện bởi đường đẳng lượng Q), doanh nghiệp sẽ căn cứ vào đường đẳng phí và điểm sản xuất tối ưu (cho chi phí thấp nhất) sẽ là điểm tiếp xúc giữa đường đẳng phí và đường đẳng lượng. Nếu chi phí của lao động rẻ tương đối so với chi phí của vốn (độ dốc của đường đẳng lượng giảm), doanh nghiệp sẽ chọn phương án sản xuất sử dụng nhiều lao động hơn.
123doc 5/44 * Mô hình Lewis: Theo mô hình Lewis (Perkins và đ.g, 2006), lao động dư thừa ở khu vực nông thôn làm năng suất biên của lao động ở khu vực này gần như bằng 0. Do đó, chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp sẽ không làm sụt giảm sản lượng nông nghiệp, không làm tăng giá nông sản và không tạo áp lực tăng lương trong khu vực công nghiệp. Do đó, khu vực công nghiệp chỉ cần duy trì mức lương vừa đủ cao hơn thu nhập trong nông nghiệp để thu hút lao động từ khu vực này. Điều này sẽ tạo lợi nhuận cho khu vực công nghiệp và việc tái đầu tư lợi nhuận sẽ làm gia tăng nhu cầu lao động.
Kết hợp với lý thuyết sản xuất, có thể suy ra là trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa của một quốc gia, doanh nghiệp sẽ ưu tiên cho sử dụng lao động giá rẻ thu hút từ khu vực nông nghiệp. Dĩ nhiên là lực lượng lao động này chỉ là lao động phổ thông, chưa được đào tạo nghề, chỉ thực hiện được những công việc đơn giản sau khi được huấn luyện. Chính vì vậy, những ngành công nghiệp thâm dụng lao động sẽ phát triển trong giai đoạn này. Quá trình này sẽ diễn ra đến khi lao động dư thừa giảm dần, làm giảm nguồn cung lao động cho công nghiệp khiến chi phí lao động gia tăng.
Các doanh nghiệp buộc phải chuyển hướng sang các lĩnh vực công nghiệp thâm dụng vốn nhiều hơn, sử dụng lao động ít hơn một cách tương đối. Việc đào tạo nâng cao tay nghề, kỹ năng cho lao động để thích nghi với công nghệ hiện đại hơn là cơ sở để thúc đẩy quá trình chuyển đổi này. Quá trình công nghiệp hóa của các nước Đông Á là một minh họa cho lập luận trên. Có thể tham khảo kinh nghiệm của Đài Loan được mô tả trong Đặng Kim Sơn (2001).
Quá trình dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang các khu vực khác của Việt Nam có thể tham khảo trong Phạm Quang Diệu (2005). Mô hình lựa chọn của người lao động King (2006) đưa ra mô hình cho quyết định đi học, trong đó một người sẽ quyết định đi học hay không tùy thuộc vào chi phí và lợi ích của việc học.2: Mô hình ra quyết định của người đi học Thu nhập, chi tiêu I 3 II 2 Độ tuổi 1 Tốt nghiệp Tốt nghiệp Nghỉ hưu trung học học nghề Nguồn: điều chỉnh từ King (2006) Đối với một người đã học xong trung học, người này sẽ đứng trước hai lựa chọn: (1) bắt đầu đi làm và nhận một mức thu nhập tương đối thấp cho công việc đơn giản; (2) tiếp tục đi học lên cao hơn: học trung cấp, cao đẳng hoặc đại học. Ở đây sẽ xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đi học nghề (trung cấp nghề hoặc cao đẳng nghề) của những người không có điều kiện học đại học. Để học nghề, người này sẽ phải mất thời gian và chi phí cho việc học.2, đường I thể hiện dòng thu nhập nếu đi học nghề, đường II thể hiện dòng thu nhập khi chọn đi làm sau khi tốt nghiệp trung học.
Đường I tăng dần thể hiện thu nhập tăng lên theo thời gian làm việc. Đường II có độ dốc cao hơn, thể hiện thu nhập của người có học nghề sẽ tăng nhanh hơn. Mô hình giả định thu nhập của người mới tốt nghiệp học nghề sẽ mất một thời gian để theo kịp người tốt nghiệp trung học đã đi làm trước đó. Vùng 1 sẽ là chi phí cho việc đi học (học phí, chi phí sinh hoạt,…).
Vùng 2 là chi phí cơ hội của việc đi học nghề (thu nhập mất đi do không thể đi làm với bằng 123doc 7/44 trung học). Vùng 3 thể hiện chênh lệch thu nhập của người có học nghề so với người tốt nghiệp trung học. Trên nguyên tắc, người lao động sẽ quyết định đi học nếu thu được lợi ích ròng từ việc đi học, nghĩa là giá trị hiện tại của vùng 3 phải lớn hơn vùng 1 và 2. Tuy vậy, trên thực tế, người lao động phải xem xét thêm những yếu tố khác: - Khả năng xin được việc làm với bằng trung học và bằng nghề, cụ thể là thời gian và chi phí để xin được việc làm (mô hình của King giả định là không mất thời gian và chi phí để xin việc làm).
Ngoài ra là mức độ phù hợp của công việc với chuyên môn đã học. - Đánh giá của mỗi người về giá trị của tiền tệ theo thời gian (lãi suất chiết khấu). Nếu lãi suất chiết khấu là lớn nghĩa là một người sẽ quan tâm đến những khoản thu nhập trước mắt hơn là thu nhập cao hơn nhưng phát sinh trong tương lai nên sẽ có xu hướng đi làm hơn là đi học nghề. - Chi phí cho việc học và thời gian học càng cao thì xu hướng học nghề càng thấp.
- Những yếu tố khác như năng lực bẩm sinh, độ tuổi xem xét, đặc thù của thị trường lao động (nếu cung lao động học nghề là lớn so với cầu sẽ làm cho thu nhập của người tốt nghiệp học nghề tương đối thấp, ngược lại nếu cung của lao động phổ thông thấp so với cầu lao động phổ thông làm cho thu nhập của lao động phổ thông cao tương đối)… Mô hình của King giúp ta xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đi học trên cơ sở phân tích lợi ích – chi phí của việc đi học. Tuy nhiên, quyết định đi học để làm nghề hay đi học để làm “thầy” còn phụ thuộc vào yếu tố văn hóa, truyền thống của người lao động. Xét trên góc độ này, Viện nghiên cứu giáo dục thuộc trường ĐH Sư phạm TP.HCM (2008) đã thực hiện nghiên cứu “Tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh/sinh viên về định hướng tương lai”. Theo nghiên cứu này, kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ học sinh, sinh viên muốn học nghề là rất thấp, đa phần sinh viên học cao 123doc 8/44 đẳng hoặc trung cấp không muốn đi làm sau khi học xong mà muốn học liên thông lên cao hơn.
Nghiên cứu này cho rằng điều đó phần nào phản ánh được nhận thức sai lầm là: (1) nhà tuyển dụng sẽ coi trọng những người bước vào thị trường việc làm với văn bằng, bằng cấp chuyên môn bậc cao hơn; và (2) người ta có thể học được từ nhà trường phần lớn kiến thức cần thiết cho cuộc đời của mỗi con người. Hơn nữa, thực tế này cho thấy một thực trạng: đãi ngộ của xã hội hiện nay đối với những người lao động giản đơn, người công nhân, người thợ còn quá thấp, chưa tương xứng với sức lao động, sự hao phí và khả năng phục hồi, khiến cho thị trường lao động có khả năng bị mất cân đối nghiêm trọng. Nguyễn Văn Huyên và Hồ Hữu Nhựt (2007) cũng có cùng kết luận khi nghiên cứu về định hướng giá trị nghề nghiệp xã hội của học sinh – sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này cho rằng nguyên nhân của hiện tượng “thiếu thợ, thừa thầy”: đa số học sinh không muốn trở thành “người lao động bình thường”, đa số muốn đi học đại học sau khi học xong trung học phổ thông là do việc giáo dục và định hướng giá trị nghề nghiệp nhà trường và xã hội đã bỏ ngỏ cũng như chưa có một chuẩn mực được định hướng đúng đắn.
Điều này tạo sức ép cho hệ thống đại học và làm cho thị trường lao động mất cân đối. Lựa chọn của doanh nghiệp đối với việc đào tạo lao động Theo lý thuyết về việc sử dụng lao động của doanh nghiệp (Pindyck và Rubinfeld, 1995) đối với thị trường cạnh tranh hoàn toàn, đường cầu lao động được xác định bởi doanh thu sản phẩm biên (MRP) của lao động. Doanh thu sản phẩm biên MRP = P.MP (với P: giá sản phẩm, MP: sản phẩm biên của lao động), để cho đơn giản, ta xem như MRP chính là MP được tính bằng tiền. Để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ tuyển lao động cho đến khi sản phẩm biên của lao động đúng bằng mức lương phải trả cho lao động.
Vì vậy, đường cầu lao động của doanh nghiệp: MP = W (với W: tiền lương).3: Cân bằng trên thị trường lao động W SL II W2 I W1 MP2 MP1 L1 L2 L Nguồn: tham khảo từ Pindyck và Rubinfied (1995) Như vậy cân bằng trên thị trường lao động khi cung và cầu lao động gặp nhau. Việc đào tạo (tại nhà trường hay tại doanh nghiệp) sẽ làm tăng năng suất của lao động, sản phẩm biên tăng sẽ làm tăng nhu cầu lao động của doanh nghiệp và tăng lương cho người lao động. Lợi nhuận của doanh nghiệp từ việc thuê lao động thể hiện bởi tổng chênh lệch giữa sản phẩm biên của lao động và mức lương mà doanh nghiệp trả (diện tích tam giác nằm dưới đường cầu và nằm trên mức lương).3, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng khi năng suất của lao động tăng (vùng II so với vùng I trên đồ thị). Đó là lý do doanh nghiệp sẽ ưu tiên cho hình thức đào tạo nào hiệu quả hơn, mang lại năng suất lao động cao hơn.
Theo mô hình của Becker (1962) về đào tạo tại doanh nghiệp (on-the-job training), doanh nghiệp sẽ không chấp nhận phí tổn cho việc đào tạo kỹ năng cơ bản 1 của lao động. Trong thị trường cạnh tranh hoàn toàn, doanh nghiệp sẽ tuyển dụng lao động sao cho MP = W (1.