CHƯƠNG 1.CO SO LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA DE TÀI 1.Khái niệm công cu 1.Khái niệm nghề Nghề là môt khái niệm trừu tượng , khó có cách hiểu cụ thé va rõ ràng, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra xong chưa được thống nhất, chăng hạn: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đôi được.Nghề mang tính tương đối, nó phát dinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội.Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song có thé thay một số nét đặc trưng nhất định: - Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại. - Nghề là sự phân công lao động xã hội, phủ hợp với yêu cầu xã hội. - Nghề là phương tiện để sinh sống Từ điển Tiếng Việt ( 1998) định nghĩa: “ Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động xã hội. Như vậy có thé hiểu nghề là một lĩnh vực hoạt đồng lao động mà trong do, nhờ được đảo tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng dé làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh than nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.Khái niệm đào tạo nghề Khái niệm đào tạo nghề thường gắn với giáo dục, nhưng hai phạm trù vẫn có một số sự khác nhau tương đối.
Giáo dục được hiểu là các hoạt động và tác động hướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực (bao gồm tri thức, kĩ năng và kĩ sảo.) và phâm chất (niềm tin, tư cách, đao đức.) ở con người dé có thé phát triển nhân cách đây đủ nhât và trở nên có giá trị tích cực đôi với xã hội.Hay nói cách khác, 12 giáo dục còn là quá tình khơi gợi các tiềm năng có sẵn trong con người, giúp nâng cao các năng lực và phẩm chất cá nhân của thay và trò theo hướng hoàn thiện hon, đáp ứng các yêu cầu tôn tại và phát triển trong xã hội loài người. Thứ nhất, theo từ điển Tiếng Việt, “đào tạo được hiểu là việc: làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”. Thứ hai, “Đảo tạo là quá trình trang thiết bị kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động dé hoc có thé dam nhan duoc mot công việc nhất định”. Thứ ba, từ góc nhìn của các nhà giáo dục và dao tạo Việt Nam, khái niệm tương đối là đầy đủ: “ Đảo tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng và kỹ sao trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết.” Hay đào tạo chính là đề cập đến việc dạy kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một vấn đề cụ thể, để người học lĩnh hội và năm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhan được một công việc nhất định.
Chính vì vậy mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dich vụ có năng lực thực hành nghé tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật và tác phong, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm, hoặc có thé học dé phat triển lên trình độ cao hơn. Loại hình đào tạo Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian dao tạo dưới | năm, chủ yêu áp dụng đôi với các nghê phô cập.Loại hình này cô ưu điêm là PGS.TS Mai Quốc Chánh PGS.TS Trần Xuân Cầu, (2008), “ Giáo trình Kinh tế Lao động”, trang 54 13 có thể tập trung đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập trung nhưng vẫn có thé tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước. Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ 1 năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ.Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn. Đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề: Là loại hình dao tạo nghề ngắn han, phan đa đưới 1 năm.Đối tượng chủ yếu đào tạo nghề cho thanh niên và người lao động.Loại hình này thu hút được đông đảo người học vì các thủ tục học thường dễ dàng, thời gian hợp ly.Nghé dao tao đa dang và thường các trung tâm dao tạo nghề thường gắn với giới thiệu việc làm nên hỗ trợ được cho người lao động trong tìm việc làm.Khả năng thích ứng nhanh với nhu cầu thị trường lao động và nhu cầu người hoc.Dac biệt là chi phi đầu tư đào tạo không lớn.Tuy nhiên hạn chế của hình thức đào tạo biéu hiện chính là quy mô nhỏ, lượng kiến thức lý thuyết ở mức độ thấp, thiếu độ ngũ giáo viên chuyên nghiệp, thiếu các máy móc, thiết bị, phương tiện hiện đại giúp cho học viên được thực hành nghề.
Việc làm Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra quan niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” [4;tr. Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm được quy định trong Bộ luật lao động sửa đôi bố sung năm 2012.
Tại Điều 9, Chương II chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao 14 động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cam ”. Như vậy, việc làm được hiểu đầy đủ như sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cắm”. Nội dung của việc làm rất mở rộng và cho thay khả năng to lớn dé giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người. NLD được tự do hành nghề, tự đo liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh; tự do thuê mướn lao động theo quy định của pháp luật nếu có nhu cầu.
Đồng thời qua đây cho thấy, việc làm là một phạm tra lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc 10 vào yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia, địa phương hay doanh nghiệp. Tạo việc làm Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2013), giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để NLĐ có thê kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cau thị trường” [2,tr. “Tạo việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước” “Tao việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường”.
Có thé hiểu tạo việc làm là tổng hợp những hoạt động cần thiết để tạo ra những cho làm việc mới, giúp người lao động chưa có việc làm có được 15 việc lam; tạo thêm việc lam cho những NLD đang thiếu việc làm và giúp NLD tự tạo việc lam. Cơ chế tạo việc làm là cơ chế ba bên gồm có: - Về phía NLĐ: NLĐ muốn tìm việc làm phù hợp có thu nhập cao thì phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư phát triển sức lao động, phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, từ các tô chức xã hội.để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định. - Về phía người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động bao gồm các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoai, các tô chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra, cần có vốn để mua nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sức lao động để sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Ngoài ra người sử dụng lao động 11 cần có kinh nghiệp, sự quản lý khoa học và nghệ thuật, sự hiểu biết về các chính sách của nhà nước nhằm vận dụng linh hoạt, mở rộng sản xuất, nâng cao sự thỏa mãn của NLĐ, khơi dậy động lực làm việc, không chi tạo ra chỗ làm việc ma còn duy trì và phát triển chỗ làm việc.
- Về phía Nhà nước: Ban hành các luật, cơ chế chính sách liên quan trực tiếp đến NLĐ và người sử dụng lao động, tạo ra môi trường pháp lý kết hợp lao động với tư liệu sản xuất. Giải quyết việc làm Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội dé người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả. Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Trong đó quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nuôi sống bản thân và gia đình góp phan phát triển quê hương đất nước.