Phần mở đầu. - Phần nội dung: gồm 3 chương - Phần kết luận, kiến nghị. Luan van - Tài liệu tham khảo và phụ lục. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1.
Những khái niệm công cụ của đề tài 1. Khái niệm chất lượng đào tạo Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các cơ sở đào tạo, việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở giáo dục, đào tạo nào. Mặc dù, có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường do cách hiểu của người này cũng khác với cách hiểu của người kia. Chất lượng có một loạt định nghĩa trái ngược nhau và còn nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này đã diễn ra tại các diễn đàn khác nhau mà nguyên nhân của nó là thiếu một cách hiểu thống nhất về bản chất của vấn đề.
Dưới đây là một số quan điểm về chất lượng trong giáo dục đào tạo.TS Nguyễn Văn Đản (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), chất lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá nhân và xã hội, trước mắt và lâu dài. Khái niệm trên được đúc kết từ nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ quản lý chất lượng, thì chất lượng giáo dục là học sinh vừa cần phải nắm được các kiến thức kỹ năng, phương pháp chuẩn mực thái độ sau một quá trình học; đáp ứng được các yêu cầu khi lên lớp, chuyển cấp, vào học nghề hay đi vào cuộc sống lao động. Còn với góc độ giáo dục học thì chất lượng giáo dục được giới hạn trong phạm vi đánh giá sự phát triển của cá nhân sau quá trình học tập và sự phát triển xã hội khi họ tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế sản xuất, chính trị - xã hội, văn hóa - thể thao.
Luan van Nhìn từ mục tiêu giáo dục thì chất lượng giáo dục được quy về chất lượng hoạt động của người học. Chất lượng đó phải đáp ứng được các yêu cầu về mục tiêu của cá nhân và yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục. TS Tô Bá Trượng (Viện chiến lược và Chương trình giáo dục) thì cho rằng, chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáo dục. Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Cái phẩm chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì phải gắn liền với đòi hỏi của xã hội.
Theo quan niệm hiện đại, chất lượng giáo dục phải bảo đảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển. Từ việc dẫn ra nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng giáo dục, PGS.TSKH Bùi Mạnh Nhị (Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM) cho rằng, cách hiểu phổ biến hiện nay về chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của giáo dục: chẳng hạn mục tiêu giáo dục đại học toàn diện gồm có: phẩm chất công dân, lý tưởng, kỹ năng sống; tri thức (chuyên môn, xã hội, ngoại ngữ, tin học.) và khả năng cập nhật thông tin; giao tiếp, hợp tác; năng lực thích ứng với những thay đổi và khả năng thực hành, tổ chức và thực hiện công việc, khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm có ích cho bản thân và người khác. Hoặc mục tiêu giáo dục là nhằm đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kết quả của quá trình đào tạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố: mục tiêu đào tạo; thầy; trò; nội dung; phương pháp; hình thức tổ chức; điều kiện bên trong, bên ngoài,.trong đó thầy và trò là hai nhân tố trung tâm trong quá trình đào tạo.
Muốn có trò giỏi cần phải có thầy giỏi và ngược lại, thầy có giỏi mới có được trò giỏi. Thầy giáo là người quyết định trực tiếp chất lượng giáo dục và người học là chủ thể của hoạt động học vì thế chất lượng Luan van tuyển sinh đầu vào của học sinh rất quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo. Theo khoản 1 điều 2 của văn bản quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp (Ban hành kèm theo Quyết định số 76/2007/QÐ-BGDÐT ngày 20 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Ðào tạo): Chất lượng đào tạo của nhà trường là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước. Cách tiếp cận này được đa số các nhà hoạch định chính sách và quản lý giáo dục, kể cả tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAAHE) chấp nhận sử dụng.
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo ngành nghề cụ thể. Chất lượng đào tạo là sự tiếp nối hoạt động dạy học, giáo dục, do đó tạo nên sự hài hòa cân đối của quá trình sư phạm tổng thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu giáo dục – đào tạo của nhà trường. Thông qua chất lượng đào tạo góp phần thu hút và phát huy tiềm năng của từng học sinh trong nhà trường. Đồng thời phát huy cao tính chủ thể, tích cực, chủ động của học sinh dưới sự giúp đỡ, tổ chức của cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên,.
Từ đó hình thành những kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo đồng thời hình thành phát triển hoàn thiện nhân cách và tay nghề cho mỗi bản thân học sinh đó. Tóm lại: Chất lượng là một khái niệm động nhiều chiều và nhiều học giả cho rằng không cần thiết phải tìm cho nó một định nghĩa chính xác. Tuy vậy, việc xác định một số cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này Luan van là điều nên làm và có thể làm được. Hay nói một cách khái quát nhất: chất lượng đào tạo là sự tiếp nối hoạt động dạy học, giáo dục, do đó tạo nên sự hài hòa cân đối của quá trình sư phạm tổng thể nhằm hiện thực hóa mục tiêu giáo dục – đào tạo của nhà trường.
Khái niệm quản lý chất lượng đào tạo Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý chất lượng đào tạo. Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ quan niệm rằng: “Quản lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [17, tr 17]. Quản lý chất lượng đào tạo là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý, nhằm làm cho quá trình đào tạo được thực hiện có kết quả trong những điều kiện và môi trường giáo dục nhất định.
Trong lĩnh vực đào tạo nghề, quản lý chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là “con người lao động”, kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành nghề đào tạo trong hệ thống giáo dục, đào tạo. Nếu xem mô hình kỹ thuật như một khung hữu ích cho việc xây dựng biện pháp quản lý đào tạo, thì điều đầu tiên phải tìm hiểu là cấu trúc của một hệ thống cũng như các khái niệm của hệ thống giáo dục và phân biệt giữa chương trình đào tạo với hệ thống quản lý đào tạo. Tóm lại: Có nhiều quan niệm về quản lý chất lượng đào tạo, tuy mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Hay nói một cách khái quát nhất: quản lý chất lượng đào tạo là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của Luan van chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra.
Khái niệm quản lý chất lượng đào tạo nghề Nghề Nghề là thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào đó trong xã hội.Klimov viết: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có). Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”. Theo tác giả Nguyễn Hùng thì: “Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau.
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người” [18, tr 11]. Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động của xã hội”. Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những yêu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.