Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu về liên kết đào tạo nghề giữa nhà trường với doanh nghiệp 1. Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Đào tạo nghề và LKĐTN giữa nhà trường với doanh nghiệp được hình thành và phát triển do nhu cầu tất yếu của sản xuất. Kỹ thuật sản xuất càng phát triển thì đòi hỏi ĐTN, LKĐTN càng phát triển nhằm cung cấp cho sản xuất đội ngũ lao động kỹ thuật có trình độ cao, tương ứng với trình độ của phát triển sản xuất.
Năng lực, trình độ của người lao động do đào tạo cung cấp phải phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất. Đây chính là vấn đề đặt ra cho hoạt động liên kết ĐTN giữa nhà trường với doanh nghiệp. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển như Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề ĐTN cho người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp. Do yêu cầu về nguồn lao động ở mỗi nước có khác nhau nên không chỉ có lĩnh vực ĐTN mà cả phương pháp, hình thức, qui mô ĐTN cũng có sự khác nhau, song có điểm chung là đều chú trọng đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cho người lao động.
Ở nhiều nước châu Á như: Singapore, Ấn Độ, Philippin, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản,. phương thức ĐTN dựa trên năng lực thực hiện cũng đã và đang vận dụng ở các mức độ khác nhau. Các chương trình kế hoạch ĐTN dựa trên năng lực thực hiện cho các trường chuyên nghiệp, nhất là các trường kỹ thuật đã được soạn thảo và sử dụng có kết quả trong vài năm trở lại đây. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, thì: “Cải cách GD&ĐT nghề” đã tóm lược được những kinh nghiệm của các nước phân ra các khối khác nhau, như các nước châm phát triển, các nước phát triển và các nước đang luan an 14 chuyển đổi.
Báo cáo đã đưa ra những đề xuất trong việc giải quyết vấn đề cải cách hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. Đào tạo cái mà thị trường cần, chất lượng công nghệ kỹ thuật, phải phù hợp với phát triển công nghệ của mỗi nước. Mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế có những điều kiện cụ thể khác nhau, nên có những bài học khác nhau về cải cách hệ thống dạy nghề. Trong đó, Báo cáo đề cập đến những chính sách, mô hình khác nhau của các nền kinh tế trong giải quyết mối quan hệ giữa đào tạo và thị trường lao động.
Bàn về ĐTN, trong cuốn sách “Những vấn đề về lý luận dạy sản xuất”, tác giả Tra-Khô-An V. Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn là triết lý giáo dục, nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Bàn về giáo dục xã hội chủ nghĩa, C.Mác viết: “Những điều khoản của định luật công xưởng, nói chung trong toàn bộ, đối với việc giáo dục, tuy có vẻ ít ỏi thật, nhưng cũng đã tuyên bố được rằng trẻ em bắt buộc phải có trình độ sơ học mới làm được”, đồng thời C.Mác cũng khẳng định: Chỉ cần xem những cuốn sách của Robert Owen cũng đủ thấy rằng chế độ công xưởng là nơi đầu tiên làm nảy nở mầm mống của nền giáo dục tương lai, nền giáo dục sẽ kết hợp lao động sản xuất với giáo dục và thể dục, đối với hết thảy các trẻ em đến một tuổi nhất định nào đó, làm như vậy không những chỉ là tăng thêm sản xuất xã hội, mà còn là phương pháp duy nhất để đào tạo ra những con người phát triển toàn diện [68, tr. luan an 15 Ở Cộng hòa Pháp, việc đào tạo kết hợp tại trường và doanh nghiệp sản xuất đã và đang được nghiên cứu, áp dụng.
Điển hình là mô hình đào tạo “luân phiên” (Alternation) của Viện IFABTP (Viện đào tạo luân phiên về Xây dựng và Công trình công cộng) [45]. Ở Ôxtrâylia, trong khoảng ba thập kỷ vừa qua, ngành ĐTN luôn nỗ lực phát triển các phương thức kết hợp ĐTN tại trường và doanh nghiệp sản xuất. Vào những năm 80, ngành công nghiệp được bổ sung hệ thống học việc (Apprenticeship System) để đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật ở một số ngành nghề cần sử dụng. Để giải quyết vấn đề đặt ra, hệ thống Modern Australian Apprenticeship and Training System (MAATS - Hệ thống đào tạo và học việc hiện đại Ôxtraylia) được nghiên cứu và đề xuất năm 1989 và đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Tuy nhiên, ngày nay hệ thống MAATS đang được nghiên cứu hoàn thiện phù hợp hơn với sự phát triển của kinh tế - xã hội. Kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp sản xuất đã được nghiên cứu tại các nước đang phát triển ở khu vực Mỹ-Latinh [128]. Ở Hàn Quốc, trong vài thập kỷ qua, khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng, chính phủ, các nhà giáo dục và quản lý nhân sự của ngành công nghiệp sản xuất nhận ra vai trò quan trọng của việc kết hợp ĐTN tại trường và doanh nghiệp. Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra mô hình kết hợp ĐTN có tên gọi là “hệ thống 2+1” (2+1 system).
Hệ thống này có những nét giống với mô hình đào tạo kép của Đức. Đặc điểm riêng biệt của hệ thống này là 02 năm đào tạo tại trường và 01 năm đào tạo tại doanh nghiệp [132]. Ở Thái Lan, một trong những mục tiêu chiến lược của kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 8 (1997 - 2001) và lần thứ 9 (2002 - 2006), tập trung vào phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế năng động. Chính phủ Thái Lan đã nghiên cứu và xây dựng “Hệ thống hợp tác ĐTN” (Cooperative Training System) để giải quyết tình trạng bất cập giữa ĐTN và sử dụng nói trên và hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai [137].
luan an 16 Từ năm 2005 đến 2009, Trung tâm Phát triển ĐTN châu Âu (Cedefop) đã triển khai nghiên cứu về lợi ích liên kết đào tạo với doanh nghiệp theo nhiều hướng khác nhau tại 21 quốc gia châu Âu như: Cộng hoà Séc, Đan Mạch, Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Hungary, Hà Lan, Austria, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Romania, Slovenia, Slovakia, Phần Lan, Thụy Điển và Vương quốc Anh. Để từ đó khẳng định 2 nhóm lợi ích chính mà chương trình liên kết ĐTN đem lại là lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Cả 2 nhóm lợi ích đều được phân tích cụ thể qua 3 cấp độ: cấp độ vi mô (lợi ích của cá nhân); cấp độ trung gian (lợi ích của doanh nghiệp); cấp độ vĩ mô (lợi ích của xã hội). Như vậy, ở các quốc gia, đặc biệt khu vực châu Âu rất chú trọng tới liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp.
Nhiều mô hình liên kết đào tạo được thử nghiệm, áp dụng như: mô hình “đào tạo kép”, mô hình liên kết đào tạo song hành của Cộng hoà Liên bang Đức; mô hình “đào tạo luân phiên” của Pháp; mô hình “2 + 2” của Nauy; mô hình dạy nghề tam phương (Trial System) của Thụy Sỹ; mô hình “ba kết hợp” của Trung Quốc; mô hình “hệ thống 2 + 1” (2 + 1 system) của Hàn Quốc; mô hình “hệ thống hợp tác ĐTN” (Cooperative Training System) của Thái Lan. Tuy mỗi mô hình có ưu, nhược điểm và điều kiện, môi trường riêng, song về cơ bản các mô hình đã chứng minh được tính ưu việt trong liên kết đào tạo với doanh nghiệp tại mỗi quốc gia ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Tổng hợp các nghiên cứu về ĐTN, liên kết ĐTN giữa nhà trường với cơ sở sản xuất, cho thấy hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định để nền kinh tế phát triển cần chú trọng đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực nói chung và ĐTN nói riêng, ở các góc độ khác nhau. Các mô hình liên kết đào tạo ở một số nước đang được ứng dụng là: liên kết đào tạo song hành; liên kết đào tạo luân phiên; liên kết đào tạo tuần tự.
Những mô hình liên kết đào tạo giữa các trường với cơ sở sản xuất trình bày ở trên là những gợi mở, định hướng quan luan an 17 trọng về lý luận để tác giả luận án tiếp thu qua đó xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu QLLKĐTN giữa các TCĐ với doanh nghiệp của mình. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước Trong những năm gần đây, nghiên cứu về ĐTN nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và các bài viết, trong số đó một số nghiên cứu điển hình như: Tài liệu kỹ thuật tổng quan về các chủ đề được bàn luận trong hội nghị khu vực về ĐTN tại Việt Nam tổ chức ngày 10 và 11 tháng 10 năm 2012, có sự tham gia của Tổ chức phát triển Đức GIZ thông qua sự phối hợp của hai bộ là Bộ LĐTB&XH Việt Nam (MoLISA) với Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức (BMZ) về chuyên mục “Đột phá chất lượng ĐTN” [98], những vấn đề về đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và cơ sở sử dụng nhân lực được tổng hợp thành 4 nhóm: Nhóm 1, lợi ích của việc đào tạo đem lại cho chính phủ trên các phương diện cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội, mức sống của nhân dân; tăng tính cạnh tranh của các ngành; cải thiện các hoạt động kinh tế, cải thiện sự đầu tư cho giáo dục, hỗ trợ nhà nước đạt các mục tiêu phát triển. Nhóm 2, lợi ích của đào tạo đem lại cho doanh nghiệp, cụ thể là doanh nghiệp có cơ hội tuyển dụng nhân lực; giảm bớt sự thiếu hụt nhân lực có trình độ, tay nghề cao; có lực lượng lao động lành nghề, tăng tính cạnh tranh; công nhân lành nghề có cơ hội phát triển năng lực. Nhóm 3, lợi ích của đào tạo đem lại cho cơ sở dạy nghề qua xây dựng chương trình đào tạo có chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động; có cơ hội nhận hỗ trợ từ doanh nghiệp về cơ sở vật chất, tài chính, nhân sự; trở thành đối tác trong hoạt động kinh tế của doanh nghiệp; tạo được vị thế nhà trường, gia tăng khả năng tuyển sinh, tạo việc làm.