Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu Mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo nghề (CSĐTN) với doanh nghiệp (DN) trong đào tạo nghề từ lâu đã được nhiều nước quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng công nhân kỹ thuật (CNKT). Vào giữa thế kỷ XIX (1894) do sự phát triển của công nghiệp, ở Pháp xuất hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp. Người ta đã ý thức được rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phức tạp, sự chuyên môn hóa được chú trọng.
Do vậy, nội dung các cuốn sách khẳng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và phù hợp với yêu cầu của xã hội. Các nước phát triển trên thế giới luôn đề cao công tác đào tạo nghề nên học sinh được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông. Ở Nhật, Mỹ, Đức. người ta xây dựng nên các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hướng nghề nghiệp đúng đắn từ sớm.
Cho nên, với họ giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà còn chủ ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội. "Trình độ đào tạo công nhân lành nghề ở các nước xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào sự kết hợp đúng đắn giữa dạy trong trường với thực tập sản xuất ở xí nghiệp. Nếu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao động sản xuất thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo công nhân lành nghề được" Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận 9 suông". Tư tưởng này đã được cụ thể hóa trong nguyên lý giáo dục ở Việt Nam trong suốt lịch sử giáo dục của nước nhà.
Tại Đại hội Văn hóa toàn quốc tháng 7 năm 1948, Tổng bí thư Trường Chinh đã khẳng định: "Biết và làm đi đôi; lý luận và hành động phối hợp". Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm tạo điều kiện để cho CSĐTN hợp tác với DN trong đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhất là trong những năm gần đây đã ban hành cơ chế chính sách thông thoáng giúp cho sự hợp tác này được thuận lợi. Điều này được cụ thể hóa trong Luật giáo dục năm 2005 Luật dạy nghề năm 2006 và Điều lệ trường CĐ nghề năm 2007, Điều lệ trường TC nghề năm 2007, Điều lệ trường trung cấp chuyên nghiệp năm 2008, Quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề năm 2007. Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy song ở nước ta, cho đến hiện nay có thể nói, thực trạng mối quan hệ hợp tác giữa CSĐTN với DN trong đào tạo nghề còn nhiều yếu kém và cũng có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này.
PGS - TS Trần Khánh Đức có đề tài cấp bộ "Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp". Đề tài tập trung nghiên cứu các trường, lớp dạy nghề đặt tại đơn vị sản xuất trong lĩnh vực về bưu chính viễn thông và hóa chất. [6]; Tác giả Phạm Khắc Vũ với luận văn tốt nghiệp: "Cơ sở lý luận và thực tiễn phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sở sản xuất". Tác giả Hoàng Ngọc Trí với luận án tiến sĩ "Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở thủ đô Hà Nội" [15] có đề cập đến mối quan hệ giữa các trường nghề và đơn vị sản xuất.
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn với luận văn thạc sĩ "Một số biện pháp tăng cường quản lý đào tạo nghề ở trường Đại học Công 10 nghiệp Hà Nội" [17] có đi sâu phân tích mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo nghề; những nhân tố tác động đến quản lý quá trình đào tạo nghề. Một số bài báo khoa học đăng trên các báo, tạp chí của các nhà nghiên cứu giáo dục điển hình như: Bài viết “Liên kết đào tạo giữa nhà trường đại học với doanh nghiệp ở Việt Nam” của tác giả Trịnh Thị Hoa Mai – Khoa Tài chính ngân hàng, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đăng trên tập chí Khoa học đại học Quốc gia Hà Nội, số 24 (2008), tr 30-34 [7]; Bài viết: “Doanh nghiệp và nhà trường: Mối liên kết lỏng lẻo” đăng trên báo Hà Nội mới ngày 13/8/2013 của tác giả Tuệ Phương; “Triển vọng từ liên kết Viện - Trường - Doanh nghiệp” đăng trên báo http://www.vn 16/07/2013; “Liên kết nhà trường - doanh nghiệp để nâng chất lượng dạy nghề” đăng trên báo http://gdtd. Trên đây là sự khái lược về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề hợp tác giữa trường nghề với DN trong đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Tuy nhiên, liên kết giữa CSĐTN và DN trên địa bàn tỉnh Nghệ An đang còn nhiều vấn đề bất cập, vì vậy tác giả chọn vấn đề: “Liên kết giữa CSĐTN với DN nhằm nâng cao chất lượng công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất ở Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
Một số khái niệm 1.1 Hệ thống giáo dục quốc dân 1.1 Khái niệm hệ thống giáo dục quốc dân: Hệ thống giáo dục quốc dân (GDQD) của một nước là toàn bộ các cơ quan chuyên trách việc giáo dục và đào tạo cho thanh thiếu niên và công dân của nước đó.Những cơ quan này liên kết chặt chẽ với nhau hợp thành một hệ thống hòan chỉnh và cân đối nằm trong hệ thống xã hội, được xây dựng theo 11 những nguyên tắc nhất định về tổ chức giáo dục và đào tạo nhằm đảm bảo thực hiện được chính sách của quốc gia trong lĩnh vực giáo quốc dân. Hệ thống GDQD gồm 2 hệ thống lớn: + Hệ thống CSĐTN: được chia thành từng ngành học, bậc học, cấp học, từng lọai CSĐTN…CSĐTN là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ thống GDQD, là cơ quan của nhà nước chuyên trách việc đào tạo con người theo yêu cầu của nền kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đọan lịch sử. + Hệ thống ngòai CSĐTN: được chia theo các lọai hình họat động như khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao,văn hóa nghệ thuật…với các tổ chức như nhà văn hóa, câu lạc bộ , thư viên, trạm khoa học kỹ thuật… nơi dành cho thanh thiếu niên học tập, vui chơi giải trí, bồi dưỡng chính trị đạo đức, phát triển năng khiếu. Các cơ quan giáo dục ngòai CSĐTN cũng là những thể chế do nhà nước quản lý hoặc do các đòan thể xã hội phụ trách.2 CSĐTN trong hệ thống GDQD Luật giáo dục quy định về tổ chức, họat động của các lọai hình trường các cấp bậc học (Cơ sở giáo dục): + GD mầm non + GD phổ thông + GD nghề nghiệp - Trường trung cấp chuyên nghiệp - Trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề.
CSĐTN có thể được tổ chức độc lập hoặc gắn với các DN, kinh doanh, dịch vụ, cơ sở GD khác. + GD đại học + GD thường xuyên 12 Sơ đồ 1.1 Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam (Theo luật giáo dục sửa đổi năm 2009) 1. Cơ sở đào tạo nghề 1.1 Đào tạo nghề Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là: 13 - Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp.
- Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn.2 Cơ sở đào tạo nghề Cơ sở đào tạo nghề là cơ sở hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học, CSĐTN theo Luật Dạy nghề qui định bao gồm các trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, các lớp dạy nghề.3 Phân loại và hình thức đào tạo nghề Theo luật dạy nghề của quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 số 76.2006QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 quy định các trình độ đào tạo trong dạy nghề như sau: a. Sơ cấp nghề: - Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. - Dạy nghề trình độ sơ cấp được thực hiện từ ba tháng đến dưới một năm đối với người có trình độ học vấn, sức khoẻ phù hợp với nghề cần học.
- CSĐTN trình độ sơ cấp 14 + Trung tâm dạy nghề. + Trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp. + DN, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác (sau đây gọi chung là DN), trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, cơ sở giáo dục khác có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp. Trung cấp nghề - Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.