Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NĂNG LỰC THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH, SINH VIÊN THUỘC NHÓM NGHỀ NHÀ HÀNG – KHÁCH SẠN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài Nhà tâm lý học người Anh H. Spencer (1820 – 1903), người chịu ảnh hưởng sâu sắc của Thuyết tiến hóa là người đầu tiên đề cập đến vấn đề thích ứng.
Theo ông, con người sống trong xã hội (cũng giống như con vật sống trong môi trường tự nhiên) phải đấu tranh để tồn tại và chỉ có những người thích hợp nhất mới sống sót. Thích ứng với môi trường xã hội mới là điều kiện đầu tiên có tính quyết định cho sự tồn tại và phát triển của con người. 13] Thích ứng với nghề nghiệp là sự thích ứng quan trọng của con người. Sự thích ứng này giúp con người tồn tại và phát triển.
Đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Có thể nêu ra một số nghiên cứu theo hướng này: [39, tr. 18] - Nhà tâm lý học Phần Lan M. Volannen đã nghiên cứu sự thích ứng nghề nghiệp của thanh niên Phần Lan trong học nghề, thay đổi nghề, thất nghiệp, làm việc tạm thời.
Theo ông, đây là giai đoạn thể hiện sự thích ứng nghề của thanh niên. - Một nghiên cứu khác theo hướng này là nghiên cứu của Holland, ông tìm hiểu mối tương quan giữa tích cách và nghề nghiệp. Ông cho rằng, sự tương thích về tính cách với nghề nghiệp sẽ giúp thanh niên thích ứng với nghề nhanh và hiệu quả hơn, giảm bớt những khó khăn mà họ gặp phải trong công việc. - Một số nhà tâm lý học Xô Viết như Ph.
Xmirnop nghiên cứu khía cạnh sinh học, xã hội của quá trình thích ứng; Ph. Andreiep nghiên cứu sự thích ứng xã hội; M. Ivanniuk nghiên cứu sự thích ứng học tập của sinh viên. Một số nghiên cứu khác về thích ứng với hoạt động học tập như: [39, tr.
37] - Nghiên cứu của Harold W. Bernard (1954) để thích ứng với học tập ở trường 8 (LUAN.tho TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.tho thì cả người học và người dạy cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau. Người học phải hình thành tính tích cực trong học tập, kiên nhẫn, chấp hành chuẩn mực. - Nghiên cứu của P.
Zettergren, trường Đại học Stockholm, Thụy Điển (2003), nghiên cứu của Mowei Liu, Xinyin Chen, Đại học Ontario (2003) đã chỉ ra ảnh hưởng của yếu tố quan hệ bạn bè tới sự thích ứng với học tập của học sinh. - Nghiên cứu của Yao – Ming Wu, Đại học Quốc Gia Đài Loan (2000) cho thấy việc quản lý lớp của giáo viên có ảnh hưởng lớn đến sự thích ứng học tập của học sinh tiểu học. Cook và Ming – Kung, Wei – Chin, Đại học Quốc Gia Đài Loan đã nghiên cứu về ảnh hưởng của phong cách học tâp đến sự thích ứng học tập của sinh viên. - Nghiên cứu của Arbona, Consuelo, Bullington, Robin về sinh viên Thổ Nhĩ Kỳ học tập tại Mỹ đã đi đến nhận định: những sinh viên nào sử dụng tiếng Anh tốt thì sẽ thích ứng với học tập tốt hơn.
Vào khoảng đầu thế kỷ XX, tại nhiều nước tư bản phát triển trên thế giới đã phổ biến khá rộng rãi một ngành tâm lý ứng dụng tâm lý học kỹ thuật. Người đặt nền móng cho ngành này là Meinsterberg H. Vấn đề trọng tâm của ngành tâm lý này là chọn nghề và hướng nghiệp. Nhiều nhà tâm lý học kỹ thuật khẳng định rằng con người và nghề nghiệp phải phù hợp với nhau như súng với đạn.
Xuất phát từ quan niệm như vậy, trước kia người ta đã tiến hành chọn nghề ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội. Và thực chất của vấn đề chọn nghề theo kiểu ấy là một phương tiện gạt bỏ công nhân trong điều kiện kỹ thuật sản xuất đang tiến bộ và phát triển. Vì thế một việc mang tính chất nhân đạo lại trở thành biện pháp tàn nhẫn đẩy một bộ phận lao động vào tình trạng không có công ăn việc làm. Ngày nay, ở nhiều nước, việc tiến hành chọn nghề chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp.
Trong những nghề có yêu cầu cao đối với các chức năng tâm sinh lý mà khả năng của khoa học và kỹ thuật chưa cho phép thực hiện thích ứng công việc với người. Mục đích của việc chọn nghề ngoài ý nghĩa tuyển chọn còn mang ý nghĩa phân phối lực lượng lao động cho hợp lý. Các thí sinh không đạt yêu cầu đặc biệt của các ngành nghề mong 9 (LUAN.tho TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.tho muốn được chuyển sang ngành nghề khác thích hợp hơn với những lời khuyên thiết thực và hữu ích. Đối với các loại nghề phổ thông thì vấn đề quan trọng là hướng nghiệp chứ không phải chọn nghề.
Hướng nghiệp sẽ giúp người ta chọn một nghề nào đó hợp lý. (1979) cũng đã có những quan điểm riêng về sự thích ứng nghề nghiệp. Trong công trình nghiên cứu của mình ông không sử dụng thuật ngữ "thích ứng" mà sử dụng thuật ngữ "thích hợp" để nói lên sự thích nghi đặc biệt của con người với hoạt động nghề nghiệp. Đặc biệt, ông chú trọng mặt tình cảm của quá trình "thích hợp nghề nghiệp" và coi đó như một thuộc tính của nhân cách, ông còn phê phán các quan niệm truyền thống chỉ xem sự thích ứng như là quá trình lĩnh hội, thâm nhập vào các điều kiện mới, đồng thời ông nêu lên lý thuyết về sự thích ứng nghề nghiệp phù hợp với những tài liệu thực nghiệm Tâm lý học hiện đại.
[6] Khái quát các nghiên cứu trên thế giới về vấn đề thích ứng và thích ứng nghề nghiệp cho thấy: Các nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về thích ứng, thích ứng với hoạt động học tập, thích ứng nghề của sinh viên và người lao động. Một số nghiên cứu ở trong nước Tác giả Vũ Dũng (2012) nghiên cứu “Sự thích ứng xã hội của các nhóm xã hội yếu thế ở nước ta hiện nay”, tác giả khẳng định thích ứng xã hội là yếu tố tâm lý quan trọng giúp các cá nhân và các nhóm xã hội tồn tại và phát triển trong môi trường sống, nhất là khi môi trường sống thay đổi, tác giả đã đưa ra khái niệm thích ứng, thích ứng xã hội của các nhóm yếu thế. [39] Tác giả Nguyễn Văn Hộ có nhiều nghiên cứu về vấn đề thích ứng nghề, đặc biệt với tác phẩm “Thích ứng sư phạm”, tác giả đã đưa ra các khái niệm về thích ứng, thích ứng sư phạm, phân tích các nội dung hình thành khả năng thích ứng về lối sống cho sinh viên sư phạm, hình thành khả năng thích ứng tay nghề trong quá trình đào tạo cho sinh viên sư phạm. [23] Tác giả Đào Thị Oanh (1999) nghiên cứu “Sự thích ứng của con người với những yêu cầu của hệ thống”, theo tác giả, việc nghiên cứu hệ thống người – máy – 10 (LUAN.tho TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.tho môi trường đưa đến sự chấp nhận một số biện pháp nhằm thích ứng con người với công việc lao động của mình.
Các biện pháp cơ bản cụ thể nhằm mục đích này là : tuyển chọn nghề, hướng nghiệp và dạy nghề. Tác giả cũng đã đưa ra các yếu tố để hình thành và phát triển các năng lực nghề nghiệp, các kỹ xảo trong lao động công nghiệp. [3] Tác giả Trần Thị Thu Hằng (2008) nghiên cứu “Sự thích ứng với phương pháp học nghề của sinh viên Cao đẳng Kỹ thuật – Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định”, tác giả đã khảo sát thực trạng và phân tích tương quan giữa sự thích ứng với phương pháp và kết quả học nghề của sinh viên, từ đó đưa ra kết luận: Những sinh viên có lực học khá đa số là những sinh viên có sự thích ứng tương đối tốt với các phương pháp học nghề; những sinh viên có kết quả học nghề trung bình và trung bình khá thường có mức thích ứng bình thường và sử dụng ít phương pháp học nghề hơn, … [32] Tác giả Lê Thị Minh Loan (2009) nghiên cứu “Mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp”, tác giả đã đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp đó là nhu cầu, động cơ nghề nghiệp của sinh viên sau tốt nghiệp, sự chuẩn bị tâm thế trước khi tham gia hoạt động nghề nghiệp, các mối quan hệ đồng nghiệp; tác giả đưa ra kết luận sinh viên sau tốt nghiệp thích ứng ở mức độ cao không nhiều. [12] Trong ngành du lịch, có nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Quốc Nghi, Huỳnh Thị Tuyết Anh, Nguyễn Thị Ngọc Yến, Phan Văn Phùng, Nguyễn Bích Ngọc (2013) với đề tài “Đánh giá khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành kinh doanh du lịch Trường Đại học Cửu Long”, Kết quả nghiên cứu cho thấy: Khả năng thích ứng với công việc của sinh viên thể hiện qua sự hòa nhập với môi trường làm việc; Khả năng thích ứng là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá công tác “Đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội” của các trường đại học, cơ sở đào tạo nguồn nhân lực; Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành kinh doanh du lịch là ý chí cầu tiến, kiến thức chuyên môn và kỹ năng giải quyết vấn đề.tho TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.tho Bên cạnh đó, có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về sự thích ứng nghề nghiệp, cụ thể như sau: Năm 2012, tác giả Dương Thị Nga bảo vệ thành công luận án tiến sĩ “Phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên Cao đẳng sư phạm”.
Tác giả rút ra kết luận: Năng lực thích ứng nghề là một yêu cầu không thể thiếu trong quá trình học tập và rèn luyện nghề nghiệp của sinh viên nói chung và sinh viên các trường Cao đẳng sư phạm nói riêng; Năng lực này giúp sinh viên có khả năng rèn luyện, thay đổi, cải tạo và sáng tạo bản thân và môi trường, nhằm đáp ứng tốt những yêu cầu của nghề nghiệp trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. [2] Năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Hoa nghiên cứu thành công luận văn thạc sĩ “Đánh giá mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La”. Tác giả nhận xét: Thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La chủ yếu ở mức độ trung bình. Mức độ thích ứng nghề nghiệp tương quan thuận với kết quả học tập của sinh viên; Có sự khác biệt về mức độ thích ứng nghề nghiệp giữa các sinh viên các năm.