Tổng quan nghiên cứu

Năm 2000, ngành dệt may Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu 1,9 tỷ USD, tăng gấp 10 lần so với năm 1991. Bước sang giai đoạn 2005-2010, toàn ngành đặt mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu lên mức 4 đến 5 tỷ USD vào năm 2005 và đạt 8 tỷ USD vào năm 2010 theo Quyết định số 55/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp may mặc lớn nhất cả nước, quy tụ hơn 300 doanh nghiệp xuất khẩu và thu hút trên 500.000 lao động, chiếm khoảng 40% đến 50% tổng năng lực sản xuất toàn quốc. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật may tại địa bàn đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Hơn 60% cán bộ quản lý cấp cơ sở chưa từng trải qua đào tạo chính quy bên ngoài, trong khi trên 70% công nhân kỹ thuật tốt nghiệp hệ trung cấp, sơ cấp nghề chưa đáp ứng tốt yêu cầu thực tế của dây chuyền sản xuất công nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo nghề, phân tích toàn diện thực trạng đào tạo và sử dụng lao động kỹ thuật tại các trường chuyên nghiệp cùng các doanh nghiệp may trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật may giai đoạn 2005-2010.

Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát chuyên sâu tại 3 cơ sở đào tạo nghề lớn gồm Trường Trung học Kỹ thuật May và Thời trang 2, Trường Trung học Kỹ thuật Nghiệp vụ Phú Lâm, Trường Trung học Kỹ thuật Nghiệp vụ Nam Sài Gòn; đồng thời thu thập dữ liệu tại 3 doanh nghiệp may đầu ngành gồm Công ty May Sài Gòn 3, Công ty May Việt Tiến và Công ty Dệt May Thắng Lợi. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giải quyết bài toán thiếu hụt 3.994 công nhân kỹ thuật mới và nhu cầu đào tạo lại cho hơn 120.000 lao động may trên địa bàn thành phố đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển nguồn nhân lực trong kinh tế học giáo dục, kết hợp quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết Đại hội VII và Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, khẳng định con người là động lực then chốt của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Cơ sở lý luận được củng cố bằng nhận định của Ngân hàng Thế giới rằng lợi thế cạnh tranh dài hạn của Việt Nam dựa vào chất lượng nguồn nhân lực chứ không phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên.

Khung đánh giá chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong luận văn tích hợp mô hình biến đổi chất lượng của Harvey & Green (1993) và tiêu chuẩn quản lý chất lượng TCVN-ISO 8402, xác định chất lượng đào tạo là mức độ thỏa mãn mục tiêu đào tạo gắn liền với nhu cầu tuyển dụng thực tế. Đề tài lượng hóa chất lượng đào tạo của nhà trường thông qua hệ thống chỉ số: Hiệu quả đào tạo (Hđt), Hiệu quả tốt nghiệp (Htn) và Hiệu quả cuối khóa (Hck), với công thức liên kết Hđt = Htn x Hck. Các khái niệm nền tảng bao gồm: nguồn nhân lực khoa học công nghệ may, chất lượng lao động kỹ thuật thể hiện qua thể lực - trí lực - kỹ năng nghề, chuẩn kỹ năng nghề may bậc 3/7, và năng lực thích ứng với thị trường lao động. Theo các nghiên cứu kinh tế lao động, hiệu suất của công nhân tốt nghiệp phổ thông cao gấp 2 lần người chưa tốt nghiệp phổ thông, và lao động tốt nghiệp đại học có hiệu suất cao gấp 3 lần lao động phổ thông.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp từ 3 cơ sở đào tạo nghề và 3 doanh nghiệp dệt may quy mô lớn với tổng số trên 15.000 công nhân viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tiến trình nghiên cứu diễn ra từ ngày 15/02/2004 đến ngày 15/08/2004 qua 3 giai đoạn: xây dựng khung lý luận (15/02 - 15/03/2004), khảo sát và phân tích thực trạng (16/03 - 16/06/2004), đề xuất giải pháp và hoàn thiện luận văn (17/06 - 15/08/2004).

Cỡ mẫu khảo sát thực tế bao gồm 74 cán bộ quản lý và kỹ thuật tại doanh nghiệp (24 người tại May Sài Gòn 3, 40 người tại May Việt Tiến, 10 người tại Dệt May Thắng Lợi), 35 giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo, 200 học viên đang học và 55 cựu học viên đang làm việc tại các xưởng may. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm chủ thể tham gia vào chuỗi cung ứng - đào tạo nhân lực.

Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả tần số và tỷ lệ phần trăm, kết hợp phương pháp phân tích tài liệu pháp quy, phỏng vấn sâu chuyên gia và quan sát sản phẩm lao động. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đối chiếu đa chiều giữa chuẩn đầu ra của nhà trường với năng lực hành nghề thực tế tại xí nghiệp, đảm bảo luận cứ khoa học và tính chuẩn xác của các phát hiện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại nghịch lý lớn về chất lượng đầu vào và trình độ học vấn của lực lượng lao động. Tại các doanh nghiệp, tỷ lệ công nhân chưa tốt nghiệp cấp 2 chiếm tỷ trọng áp đảo, cụ thể là 61,0% tại May Sài Gòn 3 (1.648 người) và 52,0% tại Dệt May Thắng Lợi (1.251 người). Tại các cơ sở đào tạo, 88,57% giáo viên và cán bộ quản lý nhận định chất lượng học sinh tuyển sinh đầu vào chỉ đạt mức trung bình và thấp, gây khó khăn trực tiếp cho quá trình tiếp thu kiến thức kỹ thuật phức tạp.

Thứ hai, mức độ đáp ứng công việc của công nhân kỹ thuật tốt nghiệp trường nghề còn rất hạn chế. Kết quả tổng hợp ý kiến của 74 cán bộ quản lý doanh nghiệp cho thấy có tới 70,3% (52 người) đánh giá công nhân kỹ thuật bậc 3/7 hoàn thành chưa tốt nhiệm vụ được giao, chỉ có 2,7% hoàn thành rất tốt và 25,7% hoàn thành tốt. Đồng thời, 54,0% cán bộ quản lý cho biết người lao động phải mất từ 8 tháng đến 1 năm làm việc thực tế tại xí nghiệp mới tiếp cận và vận hành thuần thục dây chuyền sản xuất.

Thứ ba, cơ cấu chương trình đào tạo mất cân đối giữa lý thuyết và thực hành. Môn Công nghệ sản xuất hàng may công nghiệp tại các trường đang phân bổ 70% lý thuyết và 30% thực hành (từ 60 đến 90 tiết), trong khi 76,9% cựu học viên và 74,3% giáo viên đề xuất tỷ lệ chuẩn phải là 30% lý thuyết và 70% thực hành. Tương tự, môn Kỹ thuật may công nghiệp được 91,4% giáo viên, 90,0% học viên và 92,3% cựu học viên đồng thuận yêu cầu tỷ lệ thực hành phải đạt 80%.

Thứ tư, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy thiếu thốn nghiêm trọng và học viên khó thích ứng với cường độ công nghiệp. Tổng số máy may công nghiệp tại các trường rất thấp: Trường Phú Lâm chỉ có 20 máy, Nam Sài Gòn có 35 máy cũ, dẫn đến tình trạng 2 học sinh phải ngồi ghép chung 1 máy. Khi đi làm, 41,9% công nhân kỹ thuật không thích ứng kịp với thời gian làm việc tăng ca 12 đến 14 giờ mỗi ngày, khiến 17,6% lao động phải bỏ việc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng công nhân kỹ thuật không đáp ứng được yêu cầu sản xuất bắt nguồn từ sự lạc hậu của giáo trình và phương pháp giảng dạy. Có 82,9% giáo viên vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình truyền thống một chiều, trong khi phương pháp thảo luận và giao đề tài tự nghiên cứu chỉ chiếm 8,6%. Hơn nữa, thời gian thực tập sản xuất tại doanh nghiệp chỉ kéo dài 8 đến 10 tuần là quá ngắn, trong khi học viên phải mất ít nhất 2 tuần đầu chỉ để làm quen xưởng.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với báo cáo của Hiệp hội Dệt May Thêu Đan Thành phố Hồ Chí Minh, khi chỉ ra rằng có tới 25% lực lượng lao động toàn ngành (tương đương 131.200 người, trong đó có 120.000 công nhân may) cần phải đào tạo lại cấp thiết. Dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột so sánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ của lao động tại 3 doanh nghiệp, kết hợp bảng ma trận phân tích tương quan giữa tỷ lệ thực hành mong đợi và thời lượng giảng dạy thực tế để minh họa rõ nét khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn sản xuất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc và chuẩn hóa chương trình đào tạo theo hướng tăng cường năng lực thực hành. Cần điều chỉnh ngay khung phân bổ thời lượng các môn chuyên ngành: tăng tỷ lệ thực hành môn Kỹ thuật may công nghiệp lên 80%, môn Thiết kế trang phục lên 70% và môn Công nghệ sản xuất hàng may công nghiệp lên 60%. Đồng thời, kéo dài thời gian thực tập sản xuất tại doanh nghiệp từ 8-10 tuần lên 14-16 tuần, áp dụng bắt buộc cho toàn bộ các trường trung cấp nghề trên địa bàn thành phố từ năm học 2005-2006.

Thứ hai, hiện đại hóa cơ sở vật chất và trang thiết bị xưởng may thực hành. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Tổng công ty Dệt May Việt Nam (Vinatex) cấp ngân sách đầu tư đồng bộ máy may 1 kim điện tử, máy vắt sổ 2 kim 5 chỉ, máy chuyên dùng và phần mềm thiết kế giác sơ đồ vi tính hóa. Mục tiêu đến năm 2007 đạt tỷ lệ 1 học viên/1 máy may hiện đại, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng học sinh ngồi ghép máy thực hành.

Thứ ba, đổi mới phương pháp sư phạm và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đẩy mạnh áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề, hướng dẫn thao tác mẫu trực quan và làm việc nhóm, phấn đấu giảm tỷ lệ dạy thuyết trình thụ động xuống dưới 40% trước năm 2006. Ban giám hiệu các trường cần quy định định kỳ 100% giáo viên chuyên ngành may phải đi thực tế sản xuất tại các doanh nghiệp lớn như May Việt Tiến, May Sài Gòn 3 ít nhất 2 tháng mỗi năm.

Thứ tư, xây dựng mô hình liên kết đào tạo ba bên giữa Nhà nước, Cơ sở giáo dục nghề nghiệp và Doanh nghiệp dệt may. Các doanh nghiệp cần chủ động đặt hàng đào tạo, tham gia thẩm định chuẩn đầu ra và tài trợ thiết bị thực hành cho nhà trường. Mục tiêu giai đoạn 2005-2010 là hoàn thành đào tạo mới 3.994 công nhân kỹ thuật chất lượng cao và đào tạo lại tay nghề cho 120.000 công nhân may trực tiếp, đảm bảo cung ứng đủ nhân lực cho ngành may thành phố.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Ban Giám hiệu, Trưởng khoa Công nghệ May và giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và trung tâm dạy nghề. Luận văn cung cấp số liệu thực chứng chi tiết về tỷ lệ phân bổ giờ học, giúp các đơn vị thiết kế lại đề cương môn học, cải tiến phương pháp giảng dạy thực hành và xây dựng tiêu chuẩn xưởng may đạt chuẩn.

Nhóm thứ hai là Ban Lãnh đạo, Giám đốc Nhân sự và Quản đốc xưởng sản xuất tại các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu. Tài liệu là căn cứ thực tiễn để doanh nghiệp thiết lập quy trình đào tạo hội nhập cho công nhân mới tuyển dụng, rút ngắn thời gian làm quen việc từ 12 tháng xuống còn 3 đến 6 tháng, đồng thời tối ưu hóa kế hoạch thi nâng bậc thợ hàng năm.

Nhóm thứ ba là các nhà quản lý và hoạch định chính sách giáo dục nghề nghiệp thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng Hiệp hội Dệt May Thêu Đan Thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài hỗ trợ dữ liệu dự báo nhân lực giai đoạn 2005-2010 để hoạch định quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề và phân bổ ngân sách đầu tư thiết bị công nghệ.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Sư phạm Kỹ thuật, Quản lý Giáo dục và Kinh tế Lao động. Luận văn đóng vai trò là khung nghiên cứu điển hình về phương pháp khảo sát định lượng kết hợp định tính, cung cấp bộ câu hỏi thăm dò ý kiến khoa học và quy trình xử lý dữ liệu chuẩn mực.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân vì sao công nhân may có chứng chỉ nghề bậc 3/7 vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất tại nhà máy?

Nguyên nhân chính là do chương trình đào tạo tại trường còn nặng về lý thuyết, chiếm tới 70% thời lượng ở một số môn chuyên ngành, cùng với việc thiếu máy móc chuyên dùng hiện đại. Khảo sát 74 cán bộ quản lý cho thấy 70,3% công nhân mới tốt nghiệp thao tác còn chậm, thiếu kỹ năng xử lý sự cố thiết bị và chưa quen với tác phong công nghiệp khẩn trương tại dây chuyền.

Tỷ lệ phân bổ lý thuyết và thực hành tối ưu cho các môn chuyên ngành công nghệ may là bao nhiêu?

Dữ liệu khảo sát từ 200 học viên, 35 giáo viên và 55 cựu học viên chỉ ra rằng tỷ lệ tối ưu cho môn Kỹ thuật may công nghiệp và môn Máy thiết bị may là 20% lý thuyết và 80% thực hành. Đối với môn Thiết kế trang phục, tỷ lệ phù hợp là 30% lý thuyết và 70% thực hành; riêng môn Công nghệ sản xuất hàng may là 40% lý thuyết và 60% thực hành.

Thời gian thực tập sản xuất tại doanh nghiệp bao lâu là hợp lý để học viên bắt nhịp công việc thực tế?

Thời gian thực tập 8 đến 10 tuần hiện nay là không đủ vì học viên phải mất ít nhất 2 tuần đầu chỉ để làm quen các công đoạn. Luận văn khuyến nghị thời lượng thực tập lý tưởng phải từ 14 đến 16 tuần, giúp học viên luân chuyển xuyên suốt qua các khâu từ giác sơ đồ, cắt, may chuyền đến kiểm tra chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

Quy mô nhu cầu nhân lực và đào tạo lại của ngành may Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005-2010 như thế nào?

Theo dự báo của Tổng công ty Dệt May Việt Nam và Hiệp hội Dệt May, Thành phố Hồ Chí Minh cần bổ sung mới 3.994 công nhân kỹ thuật và 122 kỹ thuật viên trình độ trung cấp. Đặc biệt, thành phố cần tổ chức đào tạo lại cho ít nhất 25% tổng lực lượng lao động hiện có, tương đương 131.200 người, trong đó công nhân may chiếm tới 120.000 người.

Doanh nghiệp dệt may cần phối hợp như thế nào với nhà trường để nâng cao chất lượng đào tạo?

Doanh nghiệp cần chủ động ký kết hợp đồng đào tạo theo đơn đặt hàng, tiếp nhận học viên thực tập từ 14 tuần trở lên và cử cán bộ kỹ thuật tham gia thỉnh giảng thực hành. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên chuyển giao máy may thanh lý cho nhà trường và tham gia xây dựng tiêu chuẩn đánh giá kỹ năng nghề sát với yêu cầu thực tế.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện bài toán nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành may thông qua các kết luận then chốt sau:

  • Khẳng định nguồn nhân lực kỹ thuật là yếu tố quyết định giúp ngành dệt may Thành phố Hồ Chí Minh đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 8 tỷ USD vào năm 2010.
  • Chỉ rõ thực trạng 70,3% công nhân kỹ thuật bậc 3/7 chưa đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất do chương trình đào tạo nặng lý thuyết và thiếu hụt máy may công nghiệp hiện đại.
  • Xác lập chuẩn tỷ lệ thực hành cho các môn học chuyên ngành công nghệ may đạt từ 60% đến 80% thời lượng toàn khóa.
  • Đề xuất kéo dài thời gian thực tập sản xuất tại xí nghiệp lên 14 đến 16 tuần và hiện đại hóa thiết bị thực hành đạt tỷ lệ 1 máy/1 học viên trước năm 2007.
  • Hoàn thiện mô hình hợp tác ba bên giữa Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp để hoàn thành mục tiêu đào tạo lại 120.000 công nhân may đến năm 2010.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là cung cấp hệ thống số liệu khảo sát thực chứng tin cậy và bộ giải pháp đồng bộ có tính ứng dụng cao cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ sở đào tạo cần khẩn trương rà soát lại khung phân phối chương trình, đồng thời các doanh nghiệp cần chủ động liên kết đặt hàng đào tạo để chuẩn bị lực lượng lao động sẵn sàng cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và quản lý giáo dục quan tâm hãy nghiên cứu chi tiết toàn văn đề tài để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý và giảng dạy.